vanban.org

Bản án 32/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 32/2018/HSST
Ngµy: 30/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn K

- Héi thÈm nh©n d©n:

1. Ông: Trần Văn H

2. Bà: Trần Thị Minh H

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M – Kiểm sát viên VKSND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Ngày 30/5/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2018/HSST ngày 19/4/2018 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1953 Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 03, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo; không Trình độ học vấn: 07/10. Nghề nghiệp: Làm ruộng Con ông: Nguyễn Văn V (Đã chết) Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1921. Anh chị em ruột: 05 người, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình Vợ: Võ Thị L, sinh năm 1960 Con: 03 con, lớn nhất sinh năm 1981 , nhỏ nhất sinh năm 1986 Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/02/2018, có mặt tại phiên tòa. 2. Người bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959

- 1 -

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 03, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) 2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị: Nguyễn Thị A, sinh năm 1984. Có mặt. Địa chỉ: Xóm Xuân Đình, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ việc ông Nguyễn Văn H có hành vi ném chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị A (Con gái Nguyễn Văn T) trong quá trình nói chuyện tại nhà Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T đã dùng tay đấm vào mặt ông Nguyễn Văn H khiến vùng lông mày phải, mắt phải của ông Nguyễn Văn H bị thương tích.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận, khoảng 14 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 anh Trần Văn L (Con rể Nguyễn Văn T) chở ông Nguyễn Văn H đến nhà Nguyễn Văn T để nói chuyện về việc ông Nguyễn Văn H cho rằng con gái Nguyễn Văn T là chị Nguyễn Thị A có thuê người xuống nhà ông Nguyễn Văn H đe dọa gia đình ông H. Thấy Nguyễn Văn H đến, Nguyễn Văn T mời ông Nguyễn Văn H vào phòng khách để nói chuyện. Nguyễn Văn T hỏi “Ông H có chuyện chi à?”, nghe vậy ông Nguyễn Văn H nói “Khi tối con A thuê người đến đe dọa dưới gia đình tôi”. Nguyễn Văn T nói ông H vu khống và hỏi ông H có bằng chứng gì không nhưng ông H nói “Tôi không có bằng chứng chi”, rồi ông H nói tiếp “Từ nay về sau, gia đình tôi có chuyện chi thì gia đình anh ả phải chịu trách nhiệm”. Lúc này chị Nguyễn Thị A và bà Võ Thị L – vợ Nguyễn Văn T đang đứng gần đó. Sau khi nghe ông H nói vậy, chị Nguyễn Thị A lấy điện thoại di động ra đặt lên bàn để ghi âm, ông H nói với chị A “Cháu cất điện thoại đi” nhưng chị A không cất nên ông H nói tiếp “Không cất tôi quăng điện thoại đó”. Tuy nhiên, chị A không nghe, không cất máy nên ông H đã dùng tay gạt chiếc máy điện thoại di động của chị A rơi xuống nền nhà, sau đó tiếp tục cúi xuống nhặt chiếc điện thoại lên và ném ra ngoài thềm làm tung vỏ chiếc điện thoại ra. Thấy vậy, Nguyễn Văn T dùng tay đấm vào mặt ông H, ông H dùng tay đỡ và đấm lại Nguyễn Văn T, hai bên lao vào đánh nhau. Lúc này, anh Trần Văn L nhảy vào can ngăn và chở ông H đi trạm xá sơ cứu vết thương. Hâụ quả ông Nguyễn Văn H bị thương tích gồm 01 sẹo vết thương mờ mỏng giữa ngoài cung lông mày phải, kích thước đo được (2,5 x

- 2 -

0,1) cm; bị đánh vào mắt phải làm đụng dập nhãn cầu đục lệch thủy tinh thể đã được phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo

Tại bản giám định pháp y về thương tích số 19/TTPY ngày 18/01/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Nghệ An kết luận về thương tích của ông Nguyễn Văn H: Tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra tại thời điểm giám định là 38% (Ba mươi tám phần trăm)

Tại bản cáo trạng số 32/CT - VKS ngày 19/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 54 tháng đến 05 năm.

Vật chứng: Không

Dân sự: Đề nghị trả lại cho bị cáo số tiền tạm thu tiền bồi thường 20.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Bị cáo Nguyễn Văn T nhận tội và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

XÐt lêi khai cña các bÞ c¸o t¹i phiªn toµ phï hîp víi lêi khai t¹i c¬ quan ®iÒu tra, phï hîp víi c¸c tµi liÖu, chøng cø kh¸c cã t¹i hå s¬ vô ¸n nªn ®· cã ®ñ c¬ së ®Ó kÕt luËn:

- 3 -

Do có mâu thuẫn từ việc ông Nguyễn Văn H có hành vi ném chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị A (Con gái Nguyễn Văn T) trong quá trình nói chuyện về vấn đề có hay không có việc chị Nguyễn Thị A thuê người đến đe dọa gia đình ông Nguyễn Văn H tại nhà Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T đã dùng tay đấm vào mặt (Vùng mắt) ông Nguyễn Văn H gây thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra tại thời điểm giám định là 38% (Ba mươi tám phần trăm).

Hành vi dùng tay cố ý đánh vào mặt ông Nguyễn Văn H nhằm gây thương tích của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Hậu quả đã làm ông Nguyễn Văn H bị tổn hại sức khỏe là 38% (Ba mươi tám phần trăm); Mặc dù hành vi phạm tội xảy ra vào ngày 27/11/2017 nhưng c¨n cø vµo NghÞ quyÕt sè 41/2017/QH14 ngµy 20/6/2017 cña Quèc héi; kho¶n 3 §iÒu 7, điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 thì việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự theo hướng có lợi cho bị cáo là có căn cứ và thỏa đáng.

Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cách thức thực hiện hành vi coi thường pháp luật đã xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì nóng giận, bức xúc trước hành vi ném chiếc điện thoại của con gái gây hư hỏng của người bị hại mà bị cáo đã dùng dùng tay đánh vào vùng mặt gây thương tích gây tổn hại sức khỏe 38% cho người bị hại. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xét xử nghiêm mới có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa chung đối với tình trạng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, cố ý gây thương tích cho người khác trên địa bàn. Tuy nhiên trong vụ án này, nguyên nhân trực tiếp xảy ra sự việc xuất phát từ lỗi của người bị hại đã cố tình ném làm hư hỏng chiếc điện thoại của con gái bị cáo trong lúc đang nói chuyện tại nhà bị cáo dẫn đến việc xô xát xảy ra và bị cáo đã gây thương tích cho người bị hại.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào nhưng có 03 tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Sau khi gây ra thương tích cho người bị hại bị cáo đã thỏa thuận bồi thường dân sự đầy đủ cho người bị hại với số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng); Bố mẹ bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì. Tại hồ sơ người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo. Các tình

- 4 -

tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo tuổi cao, sức yếu; Hơn nữa giữa bị cáo và người bị hại là anh em trong cùng dòng họ và đều là thông gia trong một gia đình. Để giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa bị cáo và người bị hại cũng như gia đình của hai bên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đÓ răn đe và giáo dục thành công dân có ích cho xã hội.

Trong vụ án này, Theo lời khai của ông Nguyễn Văn H, sau khi bị Nguyễn Văn T dùng tay gây thương tích vào vùng mặt, chị Nguyễn Thị A có dùng tay đánh vào má trái của ông Hùng nhưng quá trình điều tra, chị A không thừa nhận. Các nhân chứng có mặt tại thời điểm xảy ra sự việc cũng không ai nhìn thấy việc chị A đánh ông H. Do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với chị Nguyễn Thị A.

- Về dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường dân sự xong. Bị cáo, người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên nên HĐXX không xem xét. Do vấn đề bồi thường dân sự các bên đã thỏa thuận giải quyết xong nên cần trả lại cho bị cáo số tiền tạm thu tiền bồi thường 20.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương

Đối với chị Nguyễn Thị A, quá trình điều tra, truy tố chị có yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải bồi thường chi phí sửa chữa chiếc điện thoại do ông Nguyễn Văn H làm hư hỏng là 1.500.000 đồng nhưng sau khi Tòa án thụ lý vụ án, chị Nguyễn Thị A đã có đơn không yêu cầu bồi thường dân sự đối với ông Nguyễn Văn H. Xét thấy, yêu cầu của chị Nguyễn Thị A là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần chấp nhận và không xem xét, giải quyết vấn đề yêu cầu của chị A đối với ông Nguyễn Văn H.

- Về xử lý vật chứng: Không.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

V× c¸c lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, §iÒu 65 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm và thực hiện các nghĩa vụ

- 5 -

trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2018)

Giao bị cáo cho UBND xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cú trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về dân sự: Miễn xét.

- Về xử lý vật chứng: Miễn xét.

- Về án phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào sè tiÒn tạm thu tiền bồi thường. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 19.800.000 đồng (Mười chín triệu tám trăm nghìn đồng) ®· nép t¹i Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn §« L ¬ng, tØnh NghÖ An theo biªn lai thu t¹m øng ¸n phÝ sè 0000675 ngµy 02 th¸ng 4 n¨m 2018.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ