- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Chị Nguyễn Thị A và BĐ: anh Phạm Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị A đƣợc ly hôn anh Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HNGĐ-ST Ngày 19-11-2018 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hạnh Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 33/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1995; ĐKHKTT: thôn Ô, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Chỗ ở hiện nay: khu I, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1987; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Ô, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:
Chị và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện N ngày 07/01/2013; Sau khi kết hôn, chị và anh T sinh sống tại thôn Ô, xã H, vợ chồng hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt cũng nhƣ làm ăn phát triển kinh tế gia đình, bên cạnh đó anh T là ngƣời nóng tính, chơi bời cờ bạc, rƣợu bia, mỗi khi say về nhà hay chửi bới xúc phạm chị cũng nhƣ gia đình bên vợ, do nhiều lần bị anh T chửi bới, xúc phạm và đuổi chị nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ ngày 7/10/2018 đến nay, vợ chồng ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, bị đơn anh Phạm Văn T trình bày: Về điều kiện và thời gian kết hôn đúng nhƣ chị A đã trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách chị A còn trẻ, không chín chắn, không làm chủ đƣợc bản thân, hay nghe theo bố mẹ đẻ, mỗi lần vợ chồng cãi nhau, chị A tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở không xin phép ai, đã nhiều lần chị A bỏ về, sau đó anh phải sang tìm và phải chấp nhận mọi điều kiện của nhà chị A đƣa ra thì chị ấy mới quay về đoàn tụ. Bản thân bố mẹ chị A cũng đồng tình với suy nghĩ và hành động của chị ấy, không tham gia, bảo ban, đóng góp những sai trái của chị A. Từ đầu tháng 10/2018, sau khi vợ chồng cãi nhau, chị A đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ và ở luôn từ đó cho đến nay, không hỏi han hay tôn trọng nhà chồng. Nay chị A xin ly hôn, anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự tôn trọng nhau, nhƣng anh chỉ nhất trí ly hôn nếu chị A để cho anh trực tiếp nuôi dƣỡng hai con chung, nếu chị A không đồng ý, anh không nhất trí ly hôn.
- Về con chung: Chị A và anh T đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Khánh L, sinh ngày 04/7/2013 và Phạm Thị Linh N, sinh ngày 16/6/2016. Hiện cả hai con đang ở với anh T. Chị A xin đƣợc nuôi dƣỡng cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con. Trƣờng hợp anh T không nhất trí, chị xin nuôi dƣỡng con Phạm Thị Linh N để anh T nuôi con Phạm Thị Khánh L, chị tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T xin đƣợc nuôi dƣỡng cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu chị A phải cấp dƣỡng nuôi con, anh không nhất trí giao hai con hoặc giao cháu Phạm Thị Linh N cho chị A nuôi dƣỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị A và anh T đều không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tòa án tiến hành làm việc với lãnh đạo UBND xã H, đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ và Cán bộ lao động thƣơng binh xã hội xã H để xác minh tình trạng hôn nhân của anh T, chị A. Tại biên bản xác minh ngày 26/10/2018, đại diện các ban ngành xã đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng anh T, chị A phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm và do anh T mải chơi bài bạc nên vợ chồng hay xảy ra cãi nhau, chị A đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ đầu tháng 10/2018 đến nay, vợ chồng ly thân. Đề nghị Tòa án căn cứ vào tình trạng hôn nhân của anh T, chị A để giải quyết theo quy định.
Ông Phạm Văn V (bố đẻ anh T và bố chồng chị A) trình bày: Quá trình chung sống, anh T, chị A có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm, bên cạnh đó anh T có chơi bời bài bạc, nóng tính hay chửi bậy nên mỗi lần vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị A tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở đến nay đã nhiều lần (03 lần), mỗi lần nhƣ vậy, anh T phải sang tìm chị A mới về, đến ngày 07/10/2018, vợ chồng xảy ra cãi nhau, chị A đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cho đến nay, vợ chồng sống ly thân. Nay, chị A xin ly hôn, ông không có ý kiến gì, tùy vào anh chị ấy quyết định.
Ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị M (bố mẹ đẻ chị A và là bố mẹ vợ anh T) xác định quá trình chung sống, vợ chồng chị A, anh T có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, anh T là ngƣời mải chơi, không tu chí làm ăn, hay rƣợu chè, cờ bạc về nhà chửi mắng, xúc phạm chị A, đã nhiều lần chị A bỏ về nhà ông bà ở, sau đó đƣợc sự động viên của gia đình, chị A lại về đoàn tụ nhƣng tình cảm vợ chồng không đƣợc cải thiện. Từ đầu tháng 10/2018, chị A về ở hẳn với ông bà đến nay. Là bậc cha mẹ, ai cũng mong muốn các con mình hạnh phúc, nhƣng vợ chồng A- T đã mâu thuẫn kéo dài, cuộc sống không hạnh phúc, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị A để hai bên ổn định cuộc sống. Trƣờng hợp Tòa án giao cho chị A nuôi một hay hai con chung, ông bà sẽ hỗ trợ chị A trong việc nuôi dƣỡng con với những điều kiện tốt nhất.
Tại phiên toà, chị A, anh T vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 BLTTDS; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị A đƣợc ly hôn anh Phạm Văn T; Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn T đƣợc nuôi dƣỡng con chung Phạm Thị Khánh L, sinh ngày 04/7/2013, giao cho chị Nguyễn Thị A đƣợc nuôi dƣỡng con Phạm Thị Linh N, sinh ngày 16/6/2016 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Anh T, chị A không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai đƣợc cản trở. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị A, anh T đều không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A và anh Phạm Văn T kết hôn trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện N ngày 07/01/2013 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị A, anh T chung sống hòa thuận, hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, mỗi ngƣời một quan điểm trái ngƣợc nhau, vợ chồng không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, yêu thƣơng, giúp đỡ nhau. Theo chị A trình bày: Anh T là ngƣời chơi bời, nóng tính, gia trƣởng, đã nhiều lần chửi bới, xúc phạm chị và bố mẹ chị. Còn theo anh T trình bày: Chị A suy nghĩ không chín chắn, không làm chủ đƣợc bản thân, hay nghe lời bố mẹ đẻ, nhiều lần bỏ về nhà đẻ, không tôn trọng nhà chồng. Từ tháng 10/2018 đến nay, chị A đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân. Anh T cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm và không còn sự tôn trọng nhau. Lời khai của chị A, anh T phù hợp với các tài liệu do Tòa án xác minh, phù hợp với lời khai của bố đẻ anh T và bố mẹ đẻ chị A. Toà án đã tiến hành hoà giải theo nguyện vọng của anh T để vợ chồng đoàn tụ nhƣng chị A vẫn cƣơng quyết xin ly hôn, anh T cũng đồng ý ly hôn với điều kiện chị A phải giao hai con cho anh nuôi dƣỡng. Thực tế từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, vợ chồng vẫn sống ly thân, tình cảm vợ chồng không có chuyển biến theo chiều hƣớng tích cực. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị A đƣợc ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị A và anh T có 02 con chung là Phạm Thị Khánh L, sinh ngày 04/7/2013 và Phạm Thị Linh N, sinh ngày 16/6/2016, các cháu hiện đang ở với anh T. Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của chị A và anh T đều chính đáng. Tuy nhiên, để xem xét giao con cho ai nuôi dƣỡng, cần xem xét một cách khách quan, toàn diện, tất cả vì lợi ích của con, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đến ngày xét xử, cháu Phạm Thị Linh N chƣa đủ 36 tháng tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Hiện chị A làm công nhân, có mức thu nhập trung bình gần 5 triệu đồng/tháng, bố mẹ chị A cam kết sẽ hỗ trợ chị A trong việc nuôi con, chị A không thuộc trƣờng hợp không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Anh T cũng làm nghề tự do tại địa phƣơng, nếu giao hai con chung cho anh T nuôi dƣỡng sẽ rất vất vả, không đƣợc bằng mỗi ngƣời nuôi một con chung. Do cháu N còn nhỏ, cần sự chăm sóc của ngƣời mẹ nhiều hơn, vì vậy, HĐXX giao cho chị A trực tiếp nuôi dƣỡng con Phạm Thị Linh N để anh T nuôi dƣỡng con Phạm Thị Khánh L cho đến khi các con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi) mới đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chung. Chấp nhận sự tự nguyện của chị A, anh T không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con. Chị A, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị A, anh T đều không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị A khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị A đƣợc ly hôn anh Phạm Văn T.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Phạm Thị Linh N, sinh ngày 16/6/2016, giao cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Phạm Thị Khánh L, sinh ngày 04/7/2013 cho đến khi các con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị A và anh T về việc vợ, chồng không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, theo biên lai số AA/2017/0000694 ngày 23/10/2018
4. Về quyền kháng cáo: Chị A, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THA dân sự huyện Tứ Kỳ; - UBND thị trấn N; - UBND xã H; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VP;ỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |