- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa anh Vũ Ngọc D và chị Mạc Thị Hồng N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Ngọc D ly hôn chị Mạc Thị Hồng N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HNGĐ-ST Ngày 25/5/2018 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Chuộng
Ông Bùi Quốc Huy
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Hưng – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 446/2017/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Ngọc D, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn T, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Mạc Thị Hồng N, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là anh Vũ Ngọc D trình bày: Anh D và chị N được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/6/2015 tại UBND xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau ngày cưới, anh chị sống chung tại nhà bố mẹ đẻ anh D ở thôn T, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Anh chị sống hòa thuận khoảng hơn 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, suy nghĩ, cách sống. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Từ tháng 8/2015 chị N đã bỏ về sống tại nhà mẹ đẻ tại thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, anh D và gia đình đã nhiều lần tìm đón nhưng chị N không đồng ý về đoàn tụ vợ chồng. Anh D xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị N nên khởi kiện xin ly hôn. Về con chung: Anh D và chị N không có con chung. Về quan hệ tài sản: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn là chị Mạc Thị Hồng N đến làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị N không chấp hành, không đến Tòa án làm việc không có lý do chính đáng.
Tại biên bản làm việc ngày 30/01/2018, bà Phạm Thị G là mẹ đẻ của chị Mạc Thị Hồng N xác định: Sau khi anh D và chị N kết hôn, anh chị sống chung với nhau thời gian ngắn thì đã mâu thuẫn. Nguyên nhân do cách sống của chị N không hòa hợp với gia đình nhà anh D. Do mâu thuẫn, nên bố chồng chị N đã đuổi chị N ra khỏi nhà. Từ tháng 10/2015 chị N đã về sống cùng bà G tại thôn H, xã T, huyện K. Anh D có hai lần sang tìm gặp chị N để hòa giải nhưng hai bên hòa giải không thành nên từ đó anh chị ly thân.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh D ly hôn chị N; về quan hệ con chung và quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết; về án phí: Anh D phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Anh Vũ Ngọc D khởi kiện xin ly hôn đối với chị Mạc Thị Hồng N có nơi cư trú tại huyện K, tỉnh Hải Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh D là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị N là bị đơn không có yêu cầu phản tố đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị N đăng ký kết hôn ngày 03/6/2015 tại UBND xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau thời gian ngắn sống chung, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do anh chị có khác biệt lớn về quan điểm sống. Chị N không thể hòa nhập vào cuộc sống chung tại nhà chồng, một phần do chị N chưa thực sự cố gắng, mặt khác anh D và gia đình cũng chưa thực sự tạo điều kiện và giúp đỡ chị N hòa nhập vào cuộc sống mới sau hôn nhân. Anh chị đã nhiều lần cãi vã làm cho không khí gia đình căng thẳng. Từ cuối năm 2015 đến nay, anh chị đã ly thân, không sống chung với nhau và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Việc chị N không chấp hành giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án không nhằm mục đích níu kéo quan hệ hôn nhân mà chỉ nhằm gây khó khăn cho cho anh D. Xét mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh D là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về quan hệ con chung: Anh D và chị N không có con chung nên không đặt ra xem xét.
. Về quan hệ tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Anh D là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Ngọc D, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Ngọc D ly hôn chị Mạc Thị Hồng N.
- Về quan hệ con chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Vũ Ngọc D phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng anh D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2016/0001390 ngày 19/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, anh D đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kinh Môn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Hiệu |