- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Điểu Thị H - nGUYỄN tHANH d"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Điểu Thị H và anh Nguyễn Thanh D là vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 32/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31- 8 - 2018 V/v Tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn S
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Ph
2. Ông Đồng Văn H
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hồ Thị B - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng h nh nh hư ha gia phiên toà: Ông Hà Văn Th - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 74/2018/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2018, về việc "Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐ-HNGĐ ngày 23/7/2018, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Điểu Thị H, sinh năm 1982 (có mặt)
* Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Cùng cư trú: Đội 6, ấp 1, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện 30/8/2017, các văn bản đề ngày 12/3/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Điểu Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Điểu Thị H và anh Nguyễn Thanh D chung sống tự nguyện từ năm 1998, không chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa pH và không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của việc xảy ra mâu thuẫn là do anh D không chịu làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt và không quan tâm đến gia đình, nhiều lần anh D còn đánh đập chị H, ngoài ra anh D còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Năm 2012, anh D còn phạm tội trộm cắp tài sản đã bị Tòa án xử phạt 06 năm tù, sau khi anh D đi chấp hành án xong đến nay thì vợ chồng vẫn sống ly thân cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, do đó, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị Điểu Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh D.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Điểu Thị H không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành làm việc được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án về cơ bản là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, về thời hạn xử lý đơn khởi kiện là chưa đảm bảo. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật; đối với bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án là chưa tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị Điểu Thị H và anh Nguyễn Thanh D chung sống với nhau vào năm 1998, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, nên quan hệ hôn nhân của chị H và anh D không được pháp luật công nhận. Do đó, nay chị H xin ly hôn thì căn cứ các điều 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị H và anh D là vợ chồng.
Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị Điểu Thị H không yêu cầu xem xét giải quyết, nên không đề cập đến.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Chị Điểu Thị H không yêu cầu xem xét giải quyết, nên không đề cập đến.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Điểu Thị H khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh D, do bị đơn có nơi cư trú tại Đội 6, ấp 1, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh D đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ 2, căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo luật định.
Về nội dung:
. Về hôn nhân: Chị Điểu Thị H và anh Nguyễn Thanh D chung sống với nhau từ năm 1998, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, nên quan hệ hôn nhân của chị H và anh D không được pháp luật công nhận, trong quá trình chung sống thì vợ chồng luôn bất đồng trong quan điểm sống và không quan tâm lẫn nhau, nên chị H xin ly hôn với anh D. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các điều 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình, tuyên không công nhận chị Điểu Thị H và anh Nguyễn Thanh D là vợ chồng là phù hợp.
. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị Điểu Thị H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Chị Điểu Thị H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
. Về án phí: Chị Điểu Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 53, 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 1 Điều 28; các điều 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Điểu Thị H và anh Nguyễn Thanh D là vợ chồng.
2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Điểu Thị H phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0024531, quyển số 000491 ngày 12/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Chị Điểu Thị H được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thanh D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND t nh nh hư c; - VKSND huyện Đồng Phú; - Chị cục THADS huyện Đồng Phú; - Đương sự; - UBND xã Đồng Tiến; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Sơn |