- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chị Bùi Thị Ngọc Ngân được ly hôn với anh Nguyễn văn Qu.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HNGĐ-ST Ngày: 05/02/2018 V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH Đ
Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Phước.
2. Ông Đỗ minh Tân.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Văn Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 78A/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2018 vụ án Tranh ch p ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2018/QĐXX-ST ngày 13 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bùi Thị Ngọc Ng, sinh năm 1995; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Phú Lộc Th, xã An Đ, huyện Mỏ Cày N, tỉnh B.
Bị đơn: Nguyễn Văn Qu, sinh năm 1983; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã An Phú Th, huyện C, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 28/2/2018 nguyên đơn Bùi Thị Ngọc Ng trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Ng và anh Qu do quen biết rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Phú Th, huyện C, Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/4/2013. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp nhau, anh Qu không tôn trọng lời nói và ý kiến của chị Ng, anh Qu thường xuyên nhậu nh t, say xỉn về nhà đánh đập và xúc phạm chị Ngân. Nhiều lần chị Ng muốn hàn gắn tình cảm nhưng anh Qu có thái độ xúc phạm chị Ng. Từ đó, tình trạng vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn và tiếp tục chung sống nên đã ly thân từ tháng 7/2014 đến nay.
Nay, chị Ng không còn tình cảm với anh Qu nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Qu.
- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Thanh S, sinh 24/4/2014. Chị Ng đồng ý giao cháu Sang cho anh Qu trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 15/3/2018, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Văn Qu nhưng anh Qu vẫn không có ý kiến gì về việc chị ng xin ly hôn với anh cũng như việc chị Ng đồng ý giao con cho anh nuôi dưỡng và không p dưỡng nuôi con.
* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự: thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp cũng như tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Về thời hạn chuẩn bị xét xử thẩm phán thực hiện đúng qui định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử: Tại phiên toà Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng qui định tại các điều 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành giấy triệu tập tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đúng qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa có ấn định thời gian mở lại phiên tòa cho bị đơn anh Nguyễn Văn Qu theo qui định tại Điều 220, 233 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) nhưng anh Qu đã vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Qu theo qui định tại các Điều 227, 228 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị anh Qu do quen biết tiến tới hôn nhân và có tổ chức đám cưới, dăng ký kết hôn vào ngày 02/4/2013 tại UBND xã An Phú Th, huyện C, tỉnh Đ nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị và anh Qu sống hạnh phúc với nhau nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn khoảng năm 2014 nguyên nhân do anh Qu thường hay uống rượu không lo làm ăn. Anh Qu đánh dập chị Ng khi anh nhậu sai nên chị Ng bỏ về nhà cha m ruột để sinh sống. Sau đó, anh Qu qua nhà cha m ruột chi Ng mắn chữi gia đình với những lời lẽ xúc phạm và xô ngã m vợ. Chị Ng đã cố gắng khuyên anh Qu nhưng anh không thay đỗi tính tình và anh chị đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2014 cho đến nay. Hiện nay, tình cảm giữa chị với anh Qu không còn nên chị Ng yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Qu.
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại chị Ng và anh Qu sống ly thân với nhau đến nay cũng lâu nhưng anh và chị vẫn không hàn gắn lại được tình cảm vợ chồng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/3/2018, chị Ng trình bày không còn tình cảm với anh Qu nữa và tại phiên tòa hôm nay chị Ng có đơn xét xử vắng mặt vì không muốn trở về đoàn tụ. Mặt dù, tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Qu vắng mặt không lý do.
Diều 56 luât hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sua:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
…………..”
Do đó, Hội đồng xét xử không có cách nào động viên chị ng trở về đoàn tụ với anh Qu.
Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Ng và anh Qu đã thật sự trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đcíh hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc Ng.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Sa, sinh ngày 24/4/2016 hiện đang sống với anh Qu. Chị Ng đồng ý giao cháu cho anh Qu nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, ciệc chị Ngân tự nguyên giao cháu cho anh Qu nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
về án phí: Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Bùi Thị Ngọc Ng phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Chị Bùi Thị Ngọc Ngân được ly hôn với anh Nguyễn văn Qu.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Ngọc Ng. Anh Nguyễn văn Qu được quyền nuôi con chung là Nguyễn Thanh S sinh ngày 24/4/2014 và chị ngân không cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Anh Nguyễn Văn Qu và các thành viên trong gia đình của anh Qu không được cản trở chị Ng đến đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Bùi Thị Ngọc Ng nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị Ng đã nộp 300.000đ theo biên lai số 02933 ngày 15/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn trên được tính kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án Tỉnh; - Các đương sự; - VKSND Huyện; - Chi Cục THADS Huyện; - UBND xã Hòa Tân; - Lưu: VP, HSVA. | TP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Hùng |