- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị H - Nguyễn Thanh D"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của chị Mai Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 32/2018/HNGĐ-PT Ngày: 21- 8 - 2018 V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Tấn
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Đỗ Cao Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bằng là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Dẽ – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2018/TLPT/HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 82/2018/HNGĐ-ST ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2018/QĐ-PT ngày 24 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm 1983
Tạm trú: Ấp T, xã Ph, huyện N, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt khi tuyên án không lý do)
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1970
Tạm trú: Nhà không số, Khóm B, phường C, thành phố M, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Mai Thị H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
- Chị Mai Thị H trình bày: Trước đây chị H và anh D là vợ chồng, đến ngày 04/4/2017 đã được Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh An Giang giải quyết bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 68/2017/QĐST–HNGĐ. Theo quyết định về con chung, giao cháu Nguyễn Mai Thái H sinh ngày 05/4/2015 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được quyền tới lui thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Sau khi ly hôn, chị xác định đã nhiều lần đến thăm nom con, anh D có cho thăm, nhưng khi chị yêu cầu rước con về nhà của chị để ở nhiều ngày thì anh D không đồng ý, việc anh D cùng gia đình ngăn cản này chị không có trình báo địa phương lập biên bản nên không có tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án. Chị xác định đã có chồng, hiện vẫn sống nhà thuê tại ấp Sở Tại, xã Ph, huyện N, tỉnh Cà Mau; chồng làm nghề nấu ăn, còn chị thì mua bán nên có thu nhập ổn định nên có thể đảm bảo cuộc sống cho cháu H tốt hơn anh D. Do đó, chị yêu cầu thay đổi việc nuôi con, buộc anh D giao cháu H lại cho chị trực tiếp nuôi dưỡng.
- Anh Nguyễn Thanh D trình bày: Anh D thừa nhận lời trình bày của chị H về việc kết hôn, ly hôn là đúng. Khi ly hôn, được Tòa án giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Mai Thái H sinh ngày 05/4/2015 cho đến nay. Việc nuôi dưỡng cháu H đã ổn định, sức khỏe tốt, có cuộc sống bình thường, phát triển tốt như bao đứa trẻ khác. Hiện tại anh đang ở nhà thuê tại Khóm B, phường C, TpCà Mau cùng với em gái để mua bán và nuôi dạy con. Nhiều lần chị H đến thăm nom, anh là người trực tiếp chở cháu H cho chị H thăm, nhưng khi chị H đòi chở con về nhà của chị ở nhiều ngày thì anh không đồng ý. Việc chị H thường xuyên đến thăm cháu H (một vài ngày đến thăm lần) đã làm ảnh hưởng đến công việc mua bán và nuôi dưỡng cháu H, mỗi khi cháu H không đi học (học lớp nhóm trẻ) thì ở nhà với người cô ruột, mà chị H và người cô của cháu H lại mâu thuẫn với nhau, nên khi chị H đến thăm anh phải nghĩ mua bán để chở cháu H đến nơi khác cho chị H thăm. Trong khi chị H rất mong muốn cháu H về sống chung nên đã gây nhiều áp lực cho anh. Với điều kiện nhà thuê, công việc mua bán và áp lực về con nên anh định dọn về quê tại ấp Phú Hòa, xã Tây Phú, huyện S, tỉnh An Giang để sinh sống.
Do đó, từ tháng 02/2018 dl (tết nguyên Đán 2018) anh đã đưa cháu H về quê trước sinh sống cùng với ông, bà nội và chú ruột, còn anh sau khi sắp xếp công việc xong sẽ về sau (hiện cháu H chưa đủ tuổi đi học mẫu giáo). Anh D xác định chưa có vợ, công việc mua bán có thu nhập ổn định, hàng tháng gửi tiền về cho ông, bà nội làm chi phí để nuôi dưỡng cháu, dự kiến đến tháng 08/2018 anh sẽ dọn nhà về quê sinh sống cùng cha mẹ và để trực tiếp nuôi dưỡng cháu H (đến tháng 09/2018 cháu H mới đủ tuổi học mẫu giáo). Anh D xác định đã nuôi dưỡng cháu H khi còn 02 tuổi, cuộc sống ổn định, sinh họat và phát triển bình thường nếu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu H, vã lại hiện chị H đã có chồng khác nên anh không đồng ý giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại bản án hôn nhân sơ thẩm số 82/2018/HNGĐ-ST ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố M quyết định:
Áp dụng các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 144, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị H đối với anh Nguyễn Thanh D, về việc: Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với anh D và giao cháu Nguyễn Mai Thái H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định
Ngày 25/5/2018, chị Mai Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm và xét xử cho chị H được quyền nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng pháp Luật tố tụng dân sự và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của chị H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Chị Mai Thị H và anh Nguyễn Thanh D được Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh An Giang ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 68/2017/QĐST-HNGĐ ngày 04/4/2017. Theo nội dung quyết định về con chung giao cháu Nguyễn Mai Thái H (nữ) sinh ngày 05/4/2015 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được quyền tới lui thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Sau khi ly hôn, chị H cho rằng anh D nuôi cháu H không tốt, cuộc sống vất vã và ngăn cản không cho chị H chở cháu H về nhà của chị ở nhiều ngày nên chị yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định tại Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình quy định, thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng, và người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp này, sau ly hôn chị H đã đến thăm nom cháu H nhiều lần, thậm trí anh D nhiều lần trực tiếp chở cháu H cho chị H thăm nom. Như vậy anh D đã thực hiện nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con, không cản trở chị H đến thăm nom. Trong khi đó, anh D chưa có vợ và đang nuôi dưỡng cháu H ổn định từ khi ly hôn cho đến nay (khi đó cháu H mới được 02 tuổi) và có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không chứng minh được anh D không đủ điều kiện trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cháu H. Mặt khác, việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ thay đổi môi trường sống nên ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh họat và sự phát triển bình thường của cháu H. Do đó, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung đối với anh Nguyễn Thanh D là có căn cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của chị H và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Chị H phải chịu theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của chị Mai Thị H.
Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 82/2018/HNGĐ-ST ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố M.
Áp dụng các Điều 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình
1. Không chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị H đối với anh Nguyễn Thanh D, về việc: Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với anh D và giao cháu Nguyễn Mai Thái H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
2. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng, ngày 25/5/2018 chị H có nộp tạm ứng 300.000 đồng lai thu số 0000821 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố M được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố M; - Chi cục THADS thành phố M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Minh Tấn |