vanban.org

Bản án 32/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt bà Phan Hồng S.

Bà S có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền hụi chết còn nợ cho bà Phạm Thị L với tổng số tiền là 9.960.000 đồng (chín triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng). Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bà S không chịu thanh toán cho bà L khoản tiền nợ hụi nói trên, thì hàng tháng, bà S còn phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà L yêu cầu bà S thanh toán khoản tiền hụi còn nợ"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt bà Phan Hồng S.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/DS-ST
Ngày: 13-8-2018
V/v tranh chấp tiền hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chính

2. Ông Hồ Quốc Văn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lan Anh, là Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Thới Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp tiền hụi”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2018/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1982 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Bà Phan Hồng S, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 20/4/2018 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Phạm Thị L trình bày:

Vào ngày 20/01/2016 âm lịch, bà L mở 03 dây hụi cùng giá trị đầu hụi là 500.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, mỗi dây đều có 27 chân hụi. Hụi thuộc loại hụi hưởng hoa hồng, chủ hụi được hưởng 50% giá trị đầu hụi do hụi viên hốt hụi thanh toán. Địa điểm mở hụi tại nhà bà L. Ở mỗi kỳ khui hụi, hụi viên nào bỏ thăm cao nhất thì được hốt. Bà L (chủ hụi) có trách nhiệm gom hụi của những hụi viên đã hốt hụi, hụi viên nuôi hụi sống để thanh toán cho người hốt hụi. Việc gom và giao tiền hụi, bà L chỉ có theo dõi sổ riêng.

Mỗi dây hụi, bà L đều có lập biên bản hợp đồng về việc thành lập tổ hùn vốn phát triển kinh tế hộ gia đình. 03 dây hụi được thể hiện bằng danh sách thành viên tổ 1, 2 và tổ 3. Bản chính của 03 dây hụi thì bà L quản lý, bà L có photo cho mỗi hụi viên giữ 01 bản.

Thực tế, còn khoảng 08 tháng nữa thì mãn hụi (theo ngày khui hụi thì đến 20/4/2018 là mãn hụi), do có nhiều hụi viên hốt hụi nhưng không có đóng hụi chết cho chủ hụi (bà L), nên bà L tuyên bố đình khui hụi cả 03 dây hụi này. Tuy nhiên, bà L vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho hụi viên nuôi hụi sống mỗi tháng là 500.000 đồng/chân hụi, đồng thời bà L có thỏa thuận với những hụi viên nuôi hụi sống về việc bà L có trách nhiệm thu tiền hụi chết của những hụi viên đã hốt hụi để thanh toán lại cho họ. Thực tế, bà L còn thiếu tiền hụi sống ở 03 dây hụi này khoảng 30 triệu đồng. Việc thanh toán với họ là theo giá trị đầu hụi (500.000 đồng).

Đối với bà Phan Hồng S có tham gia cả 03 dây hụi, mỗi dây 01 chân.

Trong danh sách hụi của dây hụi thứ nhất, bà S ở thứ tự số 23 tên “5 S”. Dây hụi này, bà L không nhớ bà S hốt ở kỳ thứ mấy, nhưng bà L có ghi trong danh sách hụi số tiền bà S bỏ thăm 195.000 đồng, hốt 305.000 đồng, tổng số tiền hốt được số tiền 9.690.000 đồng.

Dây hụi thứ hai, bà S có số thứ tự 17, tên “5 S”. Bà L không nhớ bà S hốt vào kỳ thứ mấy, nhưng trong danh sách hụi, bà L có ghi số tiền bỏ thăm là 210.000 đồng, hốt 290.000 đồng, tổng số tiền hốt được là 8.970.000 đồng.

Dây hụi thứ ba, bà S có số thứ tự 03, tên “5 S”. Bà L không nhớ bà S hốt vào kỳ thứ mấy, nhưng bà L có ghi trong danh sách hụi việc bà S bỏ thăm 190.000 đồng, hốt 310.000 đồng, tổng số tiền hốt được là 9.875.000 đồng.

Sau khi hốt hụi, thì bà S có đóng tiền hụi chết của 03 dây hụi đến hết kỳ khui thứ 14, còn nợ lại bà L 13 kỳ hụi chết với tổng số tiền là 19.500.000 đồng. Tuy nhiên, theo lời khai của bà S, thì bà S thừa nhận còn nợ bà L 12 kỳ hụi chết cộng với 600.000 đồng tiền hụi chết còn nợ lại của kỳ thứ 13, thì bà L cũng chấp nhận. Bà L cũng đồng ý để bà S thanh toán cho bà L tổng số tiền mà bà S đề xuất là 9.960.000 đồng (gồm nợ 12 kỳ hụi chết = 9.360.000 đồng và 600.000 đồng còn nợ của kỳ thứ 13).

* Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là bà Phan Hồng S trình bày:

Bà S thừa nhận có tham gia cả 03 dây hụi loại 500.000 đồng khui cùng ngày 20/01/2016 âm lịch, mỗi dây 01 chân, và bà S đều đã hốt hết 03 chân hụi này như bà L trình bày. Tuy nhiên, bà S không nhớ hốt hụi vào kỳ khui thứ mấy. Sau khi hốt hụi, bà S có đóng hụi chết đều đặn cho bà L đến khoảng tháng 4/2017, do chưa có tiền đóng hụi, bà L không thông cảm mà còn có lời lẽ xúc phạm bà S. Bà S ngưng không đóng hụi chết cho bà L từ đó đến nay. Bà S xác định còn nợ bà L 12 kỳ hụi chết chưa đóng và 600.000 đồng còn nợ của kỳ hụi trước đóng còn thiếu.

Trước yêu cầu của bà L đưa ra, bà S đồng ý thanh toán cho bà L số tiền vốn tính trung bình theo các kỳ khui hụi là: 12 kỳ x 260.000 đồng/kỳ x 03 chân = 9.360.000 đồng + 600.000 đồng nợ hụi của kỳ trước còn thiếu = 9.960.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bà L vẫn bảo lưu ý kiến như đã trình bày trên.

Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:

+ Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: thực hiện đúng các quy định của tố tụng dân sự;

+ Phát biểu về việc giải quyết vụ án:

Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét xử vắng mặt bà S, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L, ghi nhận sự tự nguyện của bà S về việc thanh toán tiền hụi chết còn nợ cho bà L với tổng số tiền là 9.960.000 đồng. Bà S phải chịu án phí có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn là bà S có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà S.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự là đúng, phù hợp với quy định của tố tụng dân sự.

Bà L và bà S đều thừa nhận, vào ngày 20/01/2016 âm lịch, bà L mở 03 dây hụi cùng giá trị đầu hụi là 500.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, mỗi dây đều có 27 chân hụi. Hụi thuộc loại hụi hưởng hoa hồng, chủ hụi được hưởng 50% giá trị đầu hụi do hụi viên hốt hụi thanh toán. Địa điểm mở hụi tại nhà bà L. Ở mỗi kỳ khui hụi, hụi viên nào bỏ thăm cao nhất thì được hốt. Bà L (chủ hụi) có trách nhiệm gom hụi của những hụi viên đã hốt hụi, hụi viên nuôi hụi sống để thanh toán cho người hốt hụi. Trong mỗi dây hụi nói trên, bà S đều tham gia 01 chân và đều đã hốt hụi. Giao dịch hụi giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án công nhận giao dịch hụi giữa các đương sự là có thật và hợp pháp.

Sau khi hốt hụi, bà S không chịu thanh toán khoản tiền hụi chết cho bà L là vi phạm nghĩa vụ thanh toán của hụi viên đã hốt hụi. Xét cả ba chân hụi mà bà S đã hốt, cho thấy mức lãi suất mà bà S phải trả để được hốt hụi cao hơn rất nhiều lần mức lãi Nhà nước quy định (cụ thể, mức lãi suất của lần bỏ hụi thấp nhất (chân hụi thứ ba: 190.000 đồng) đã là 38%/tháng). Do đó, cần phải điều chỉnh lại mức lãi hụi và số tiền bà S phải thanh toán tiền hụi chết cho bà L.

Cụ thể, tiền hụi chết được điều chỉnh theo quy định được xác định như sau: Tiền lãi hàng tháng của số tiền 500.000 đồng được tính theo quy định của Nhà nước là: 500.000 đồng x 1,66%/tháng = 8.300 đồng.

- Dây hụi thứ nhất, lãi suất chênh lệch được xác định là: 195.000 đồng – 8.300 đồng = 186.700 đồng. Bà S phải thanh toán tiền hụi chết của 12 kỳ hụi còn nợ là: 313.300 đồng (500.000 đồng – 186.700 đồng) x 12 kỳ còn nợ = 3.759.600 đồng;

- Dây hụi thứ hai, lãi suất chênh lệch được xác định là: 210.000 đồng – 8.300 đồng = 201.700 đồng. Bà S phải thanh toán tiền hụi chết của 12 kỳ hụi còn nợ là: 298.300 đồng (500.000 đồng – 201.700 đồng) x 12 kỳ = 3.579.600 đồng;

- Dây hụi thứ ba, lãi suất chênh lệch được xác định là: 190.000 đồng – 8.300 đồng = 181.700 đồng. Bà S phải thanh toán tiền hụi chết của 12 kỳ hụi còn nợ là: 318.300 đồng (500.000 đồng – 181.700 đồng) x 12 kỳ = 3.819.600 đồng.

Tổng số tiền hụi chết còn nợ của 03 dây hụi nói trên: 3.759.600 đồng + 3.579.600 đồng + 3.819.600 đồng = 11.158.800 đồng.

Tuy nhiên, bà L đồng ý để bà S thanh toán tổng số tiền hụi chết còn nợ theo như bà S xác định là 9.960.000 đồng (bao gồm tiền hụi chết của 12 kỳ + 600.000 đồng tiền hụi chết còn nợ lại của kỳ thứ 13). Thấy rằng, số tiền này ít hơn tổng số tiền hụi chết được điều chỉnh theo quy định của Nhà nước nói trên (11.158.800 đồng), trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự được chấp nhận.

Trường hợp chậm thanh toán khoản tiền hụi chết nói trên, bà S còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn là bà S phải chịu án phí có giá ngạch 5%. Trả lại cho bà L khoản tiền nộp tạm ứng án phí.

Tại phiên tòa: Bà L có mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án; bà S vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vắng mặt bà Phan Hồng S.

2. Bà S có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền hụi chết còn nợ cho bà Phạm Thị L với tổng số tiền là 9.960.000 đồng (chín triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng).

3. Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bà S không chịu thanh toán cho bà L khoản tiền nợ hụi nói trên, thì hàng tháng, bà S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Bà S phải chịu 498.000 đồng (bốn trăm chín mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%.

5. Trả lại cho bà L khoản tiền nộp tạm ứng án phí 488.000 đồng (bốn trăm tám mươi tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005450 ngày 01/5/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành.

6. Bà L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ