vanban.org

Bản án 32/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của anh Phạm Tuấn M. Buộc bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Phạm Tuấn M số tiền 20.

Bác một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Tuấn M yêu cầu bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th bồi thường số tiền 1.081.000 đồng. Về án phí: Bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải chịu 1.006.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của anh Phạm Tuấn M. Buộc bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Phạm Tuấn M số tiền 20.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/DS-ST
Ngày: 29-6-2018
V/v yêu cầu bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hưng

Ông Nguyễn Công Chính

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 495/2017/TLST-DS ngày 27/10/2017 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-DS ngày 25/5/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2018/QĐHPT ngày 12/6/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Tuấn M, sinh năm: 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Đường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th

Địa chỉ: Tổ liên gia 1, Tổ dân phố 1, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Bà C vắng mặt, anh Th có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/10/2017, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên toà, nguyên đơn anh Phạm Tuấn M trình bày:

Vào khoảng 20giờ, ngày 12/8/2017 anh Phạm Tuấn M đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47B2-20049 lưu thông trên đường N hướng về Ngã sáu, đến đoạn giao nhau giữa đường N và đường T thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 47P8-8736 do anh Hoàng Xuân Th điều khiển. Nguyên nhân vụ tai nạn do anh Th chuyển hướng không nhường đường cho anh M (Kết luận điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông ngày 04/10/2017 của Công an thành phố B). Sau khi tai nạn xảy ra, anh M bị thương tích 10%, xe mô tô của anh M bị hư hỏng. Gia đình anh M đã chi phí cứu chữa, điều trị vết thương, làm lại răng cho anh M hết tổng số tiền là 5.093.000 đồng (trong đó gồm: tiền xe cấp cứu: 300.000 đồng; tiền viện phí: 308.317 đồng; tiền thuốc: 734.692 đồng; thuốc trị sẹo: 130.000 đồng ; tiêm ngừa 120.000 đồng; làm răng: 3.500.000 đồng); chi phí sửa xe mô tô là 8.602.000 đồng.

Sau khi xảy ra tai nạn, và trong quá trình làm việc tại cơ quan công an, anh Hoàng Xuân Th và bà Nguyễn Thị C là chủ xe mô tô gây tai nạn không đồng ý bồi thường cho anh M bất cứ khoản tiền nào.

Nên anh M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh M các khoản tiền cụ thể sau: chi phí cứu chữa, điều trị vết thương, làm răng: 5.093.000 đồng; Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 1.000.000 đồng, tổn thất tinh thần: 5 tháng lương cơ sở x 1.300.000 đồng = 6.500.000 đồng; chi phí sửa xe mô tô: 8.602.000 đồng. Tổng số tiền là: 21.195.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th đã được Tòa án tống đạt triệu tập tham gia hòa giải hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên hòa giải không có lý do nên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa bị đơn anh Hoàng Xuân Th thừa nhận khoảng 20giờ, ngày 12/8/2017 do anh Th chưa có giấy phép lái xe theo quy định và điều khiển xe chuyển hướng không nhường đường cho anh M nên xảy ra tai nạn với anh M làm anh M thương tích 10%; và xe mô tô của anh M bị hư hỏng; hiện nay anh đang học nghề, chưa có thu nhập nên anh chỉ đồng ý bồi thường cho anh M tiền điều trị thương tích là 5.093.000 đồng; tiền sửa xe theo giá hội đồng định giá đã định là 7.891.000 đồng; còn tiền bồi thường tổn thất tinh thần và bồi dưỡng sức khỏe anh không đồng ý vì tai nạn xảy ra không ai mong muốn. Xe mô tô biển kiểm soát 47P8-8736 do bà Nguyễn Thị C là chủ sở hữu; anh học việc và ở tại nhà bà C nên ngày 12/8/2017 anh đã tự ý lấy xe đi và gây tai nạn với anh M.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến như sau:

- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành theo đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Ông Hoàng Xuân Th lỗi: Chuyển hướng không nhường đường cho xe ngược chiều gây tai nạn giao thông và không có giấy phép lái xe, hành vi này đã vi phạm Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ 2008.

Bà Nguyễn Thị C là người đứng tên chủ sở hữu xe mô tô biển số 47P8-8736 lỗi: Để cho người không đủ điều khiện theo quy định Khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ về điều khiển xe tham gia giao thông.

Tuy nhiên, theo hồ sơ vụ án nhận thấy: Khi bà Nguyễn Thị C vắng nhà, anh Hoàng Xuân Th đã tự ý lấy xe mô tô biển số 47P8 - 8736 đi mà không hỏi ý kiến của bà C. Do đó có thể xác định: Anh Hoàng Xuân Th đã chiếm hữu, sử dụng trái phép xe của bà C và gây tai nạn giao thông. Do đó, bà C không có lỗi nên không phải liên đới bồi thường trách nhiệm dân sự cho anh Phạm Tuấn M.

Theo quy định tại Điều 601 BLDS 2015 và Khoản 18 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ thì xe mô tô 02 bánh là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 601 thì anh Hoàng Xuân Th là người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Phạm Tuấn M.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh Phạm Tuấn M:

- Về số tiền sửa xe là: 8.602.000 đồng, quá trình điều tra thì xác định thiệt hại của xe là 7.891.000 đồng, do đó, chỉ chấp nhận 7.891.000 đồng;

- Về chi phí điều trị:

+ Viện phí: 308.517 đồng (Hóa đơn 0089024 ngày 13/8/2017);

+ Chi phí điều trị: 734.692 đồng; (Hóa đơn 0028234 ngày 12/8/2017);

+ Tiêm vắc xin phòng uốn ván: 130.000 đồng (nhưng anh M chỉ cung cấp được hóa đơn 50.000 đồng nên chỉ chấp nhận 50.000 đồng);

+ Đối với tiền làm răng sứ: 3.500.000 đồng thì theo kết luận pháp y thương tích không thể hiện anh M bị hư hỏng hay bị tổn hại về răng. Tuy nhiên, anh Hoàng Xuân Th tự nguyện bồi thường cho anh Phạm Tuấn M khoản tiền này nên cần chấp nhận.

- Về tiền bồi dưỡng sức khỏe và tổn thất tinh thần:

+ Về tiền bồi dưỡng sức khỏe: 1.000.000 đồng là hợp lý, cần chấp nhận.

+ Tiền tổn thất tinh thần: 05 tháng lương cơ bản là 5 x 1.300.000 đồng (Anh M bị thương tích 10% vì vậy cần chấp nhận cho anh M 02 tháng lương tối thiểu).

Do đó, yêu cầu khởi kiện bồi thường thiệt hại của anh Phạm Tuấn M là có căn cứ, cần chấp nhận một phần yêu cầu.

Bởi các lẽ trên, đề nghị:

- Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588, 590 và khoản 1, Khoản 4 Điều 601 Bộ Luật dân sự 2015.

Tuyên xử:

- Chấp nhận 1 phần đơn khởi kiện của anh Phạm Tuấn M về yêu cầu anh Hoàng Xuân Th bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra;

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Tuấn M về yêu cầu bà Nguyễn Thị C bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bị đơn cư trú tại phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 6 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Vào khoảng 20 giờ, ngày 12/8/2017 anh Hoàng Xuân Th điều khiển xe chuyển hướng không nhường đường cho anh Phạm Tuấn M nên xảy ra tai nạn.

Tại kết luận điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông ngày 04/10/2017 của Công an thành phố B xác định nguyên nhân vụ tai nạn là do anh Hoàng Xuân Th điều khiển xe môtô biển số 47P8-8736 chuyển hướng không nhường đường cho xe mô tô 47B2-20049 đi ngược chiều gây tai nạn giao thông là vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Tai nạn xảy ra gây thiệt hại như sau:

Anh M bị thương “ vết thương bàn tay(T), chấn thương đầu mặt”. Căn cứ theo bản kết luận pháp y thương tích số 1204/TgT của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận thương tích của anh M là 10%.

Hư hỏng xe mô tô biển số 47B2-20049. Căn cứ kết luận định giá tài sản 242/KLĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận thiệt hại của xe mô tô biển số 47B2-20049 là 7.891.000đ.

Lỗi của các bên liên quan:

Anh Hoàng Xuân Th chuyển hướng không nhường đường cho xe đi ngược chiều gây tai nạn giao thông, không có giấy phép lái xe.

Bà Nguyễn Thị C là người đứng tên chủ sở hữu xe môtô biển số 47P8-8736 lỗi: Để xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ.

Sau khi tai nạn xảy ra gia đình anh M đã chi phí cứu chữa, điều trị vết thương, làm lại răng cho anh M hết tổng số tiền là 5.093.000đ; chi phí sửa xe mô tô là 8.602.000đ.

Xét về yêu cầu của anh Phạm Tuấn M buộc bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường tiền thiệt hại cho anh M; Hội đồng xét xử xét thấy bà Nguyễn Thị C là chủ sở hữu xe mô tô 47P8-8736 là nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật, đã có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nên phải liên đới bồi thường thiệt hại là có căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 601 Bộ luật dân sự 2015.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên nhân anh M bị thương tích là do lỗi của anh Th và bà C cơ quan điều tra đã có kết luận như đã nêu trên, mặc dù thương tích anh Th gây ra cho anh M theo quy định của Bộ luật hình sự chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng thương tích của anh M và chiếc xe mô tô biển số 47B2-20049 bị hư hỏng là do vụ tai nạn giao thông gây ra. Vì vậy, cần buộc bị đơn phải bồi thường các khoản chi phí điều trị có hóa đơn, chứng từ tổng cộng: 4.723.209 đồng cụ thể: Tiền viện phí: 308.317 đồng tiền tiêm uốn ván: 50.000 đồng, tiền thuốc:864.692 đồng; tiền làm răng: 3.500.000 đồng là phù hợp; về tiền xe cấp cứu: 300.000 đồng và 70.000 đồng tiền tiêm uốn ván không có hóa đơn, chứng từ nên không có cơ sở chấp nhận.

Về chi phí sửa xe: Nguyên đơn cung cấp hóa đơn sửa xe là 8.602.000đồng; nhưng kết luận định giá xác định thiệt hại là 7.891.000 đồng, do đó chỉ có cơ sở chấp nhận chi phí sửa chữa xe theo giá hội đồng định giá đã xác định là phù hợp.

Đối với yêu cầu bồi thường tiền bồi dưỡng sức khỏe là 1.000.000đ và tổn thất tinh thần: 1.300.000đồng x 05 tháng lương cơ bản = 6.500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy anh M bị thương tích 10% “ vết thương bàn tay(T), chấn thương đầu mặt” nên đã ảnh hưởng đến sức khỏe, thẩm mỹ và tinh thần của anh M do đó cần buộc bị đơn phải bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Từ những nhận định trên cần buộc bà C và anh Th phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh M tiền điều trị thương tích, sửa xe, bồi dưỡng sức khỏe và tổn thất tinh thần tổng số tiền là 20.114.209 đồng ( làm tròn là 20.114.000đồng).

Bác một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Tuấn M yêu cầu bà C và anh Th bồi thường số tiền 1.081.000 đồng.

. Về án phí: Bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường cho anh M cụ thể:

20.114.000đồng x 5%=1.005.700 đồng ( làm tròn là 1.006.000 đồng).

Anh Phạm Tuấn M không phải chịu án phí DSST đối với phần yêu cầu bị bác.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Điều 227; Điều 147; Điều 220; Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 288; Điều 584; Điều 585; Điều 589; Điều 590; Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2017của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của anh Phạm Tuấn M. Buộc bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Phạm Tuấn M số tiền 20.114.000đồng (Hai mươi triệu một trăm mười bốn ngàn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 357 BLDS năm 2015 để tính lãi suất trong giai đoan thi hành án khi người được thi hành án có đơn yêu cầu.

Bác một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Tuấn M yêu cầu bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th bồi thường số tiền 1.081.000 đồng.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th phải chịu 1.006.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Phạm Tuấn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà Trần Thị Tú L đã nộp thay cho anh Phạm Tuấn M theo biên lai thu số AA/2017/0000143 ngày 23/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.

Cỡ chữ