vanban.org

Bản án 319/2025/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/11/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/11/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một ph n yêu c u h i iện của nguyên đơn bà Đào Thị D, buộc vợ chồng bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 có nghĩa v liên đới trả cho vợ chồng bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 số tiền 2.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các tr ờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NĐ: Đào Thị D - BĐ: Dương Thị Thanh T - Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán tài sản, tranh chấp về đòi…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một ph n yêu c u h i iện của nguyên đơn bà Đào Thị D, buộc vợ chồng bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 có nghĩa v liên đới trả cho vợ chồng bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 số tiền 2.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2025/DS-PT
Ngày: 10/11/2025
V/v: “Tranh chấp yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán
tài sản, tranh chấp về đòi l i giấy ch ng
nh n quyền s dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng, bà Nguyễn Thị Thủy Tiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Diễm u nh - Th

T a án nhân dân t nh Lâm Đồng.

- Đ i di n Vi n i m s t nh n d n t nh m Đồng tham gia phiên tòa: Bà L ơng Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.

Ngày 3-10 tháng 11 năm 2025, tại tr s T a án nhân dân t nh Lâm Đồng – Cơ s A, xét xử phúc thẩm công hai v án dân sự th l số 107/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán tài sản, tranh chấp về đòi l i giấy ch ng nh n quyền s dụng đất . Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024 của T a án nhân dân huyện Bắc Bình bị háng cáo. Theo uyết định đ a v án ra xét xử phúc thẩm số 195/2024/ Đ-PT, ngày 01 tháng 10 năm 2024; uyết định hoãn phiên t a số 141/2024/ Đ-PT, ngày 15 tháng 10 năm 2024, Thông báo m lại phiên t a số 581/2025/TB-TA, ngày 14 tháng 10 năm 2025, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Thị D, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Địa ch : Khu phố A, ph ờng P, t nh Lâm Đồng.

Người đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê uốc L, sinh năm 1988. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật s Tr n Hoàng P, sinh năm – Luật s của Công ty L1 luật H&P thuộc Đoàn Luật s Thành phố H. (vắng mặt)

C ng địa ch liên hệ: Lô A, KDC H ng V ơng B, đ ờng T, ph ờng P, t nh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Bà D ơng Thị Thanh T, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa ch : Khu phố L, xã L, t nh Lâm Đồng.

Người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hiệp H, sinh năm 1965. Địa ch : Khu phố B, ph ờng P, t nh Lâm Đồng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông L ơng Thanh D1, sinh năm 1960 (vắng mặt)

Địa ch : Khu phố A, ph ờng P, t nh Lâm Đồng.

2. Ông Nguyễn uốc T1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa ch : Khu phố L, xã L, t nh Lâm Đồng.

Người đ i diện theo uỷ quyền của ông T1: Bà D ơng Thị Thanh T, sinh năm 1975, địa ch : Khu phố L, xã L, t nh Lâm Đồng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản n sơ thẩm thì nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

*Theo đơn khởi ki n, trong qu trình giải quyết vụ n và t i phiên tòa đ i di n ủy quyền của bà D trình bày:

Nguyên tr ớc đây bà Đào Thị D là ng ời thu mua hải sản để bán lại cho các tiểu th ơng, trong đó có bán cho bà D ơng Thị Thanh T (là ng ời chuyên inh doanh dịch v tổ chức tiệc c ới, hỏi, sinh nhật) nên từ năm 2003 đến cuối năm 2017 bà Đào Thị D có bán cho bà D ơng Thị Thanh T một số mặt hàng hải sản. Hai bên có thỏa thuận hi nào bà T c n mặt hàng gì thì gọi điện thoại cho bà D, sau đó bà D đi thu mua lại của ng ời hác để vận chuyển hoặc gửi ôtô xe khách cho bà T. Sau hi nhận đ ợc hàng thì bà T thanh toán theo hình thức "gối đ u", có nghĩa là lấy toa hàng sau thanh toán cho toa hàng tr ớc nh ng đến một thời gian thì bà T hông thanh toán đủ nh ban đ u đã thỏa thuận. Do đó, bà D và bà T th ờng xuyên gặp nhau để ết lại số tiền c n nợ, hi mỗi l n chốt số nợ thì bà D sẽ bỏ những tờ giấy hay số sách cũ nên hoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2014 tổng số tiền bà T nợ của bà D là 3.400.000.000 đồng (ba tỷ bốn trăm triệu đồng) và tổng cộng nợ các năm 2015, 2016, 2017 thì bà D có ghi chép c thể nh sau:

Từ năm 2003 đến năm 2014 bà T nợ bà D tổng số tiền mua hải sản là 3.400.000.000 đồng (ba tỷ bốn trăm triệu đồng) nh ng hiện nay bà D không còn giữ giấy tờ gì, vì bà T đã chốt số nợ vào ngày 29/11/2016 nên các giấy tờ tr ớc đây đều bỏ hết.

Trong năm 2015 bà T nợ bà D tổng số tiền mua hải sản là 1.465.900.000 đồng (một tỷ bốn trăm sáu m ơi lăm triệu chín trăm ngàn đồng), c thể từ đ u năm 2015 đến ngày 11/9/2015 là 1.065.400.000 đồng; từ đ u tháng 12 đến 21/12/2015 là 198.450.000 đồng và từ giữa tháng 9/2015 đến hết tháng 11/2015 là 202.050.000 đồng.

Trong năm 2016 bà T nợ bà D tổng số tiền mua hải sản là 610.350.000 đồng (sáu trăm m ời triệu ba trăm năm m ơi ngàn đồng), c thể tháng 02/2016 là 40.000.000 đồng; từ tháng 3/2016 đến tháng 11/2016 là 427.550.000 đồng và tháng 12/2016 là 182.800.000 đồng.

Trong năm 2017 bà T nợ bà D tổng số tiền mua hải sản là 684.100.000 đồng (sáu trăm tám m ơi t nghìn một trăm đồng), c thể từ tháng 1/2017 đến ngày 09/4/2017 là 180.000.000 đồng; từ ngày 10/4 đến ngày 09/6/2017 là 168.800.000 đồng và từ ngày 14/12 đến ngày 22/12/2017 là 348.800.000 đồng (bà T đã trả 49.500.000 đồng).

Nh vậy tính đến nay bà D ơng Thị Thanh T c n nợ bà Đào Thị D với số tiền là 6.190.900.000 đồng (sáu tỷ một trăm chín m ơi triệu chín trăm ngàn đông). Ngoài ra, hiện nay bà Đào Thị D c n giữ của bà T 01 Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BX 073498 do UBND huyện H cấp ngày 28/10/2014 theo thửa đất số 103, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.751m2 mang tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

Nay bà Đào Thị D yêu c u vợ chồng bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 phải trả cho vợ chồng bà Đào Thị D số tiền 6.190.900.000 đồng (sáu tỷ một trăm chín m ơi triệu chín trăm ngàn đồng). Sau hi nhận tiền trên thì vợ chông bà D sẽ hoàn trả cho vợ chồng bà T và ông T1 01 Giấy chứng quyền sử d ng đất số BX 073498 do UBND huyện H cấp ngày 28/10/2014 theo thửa đất số 103, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.751m2 mang tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

*Trong qu trình giải quyết vụ n và t i phiên tòa bị đơn bà Dương Thị Thanh T trình bày:

Tr ớc đây bà Đào Thị D có làm dịch v L và bà T cũng làm dịch v đám c ới nên bà T với bà Đào Thị D có buôn bán qua lại với nhau về mặt hàng hải sản để ph c v inh doanh tiệc c ới và có thỏa thuận mua bán với nhau tính tiền bằng toa hàng. Khi bà T có nhu c u mua hàng thì bà T có viết toa hàng gửi cho bà D, bà D gửi hàng cho bà T èm theo bảng tính tiền vào mặt sau của toa hàng rồi gửi cho bà T sau đó bà T gửi tiền cho bà D, những l n gửi tiền nh vậy thì bà D đều trừ trong giấy toa hàng rồi gửi lại cho bà T.

Bà T có làm ăn chung với bà D qua mua bán hàng hóa là hải sản từ năm 2003 đến năm 2017 nh bà D trình bày nh ng số tiền mà bà D yêu c u bà T trả tổng cộng là 6.190.900.000 đồng (sáu tỷ một trăm chín m ơi triệu chín trăm ngàn đồng) là hông đúng. Vì trong quá trình mua hải sản bà T có trả d n theo hình thức gối đ u và đến cuối năm thì ết lại số tiền c thể nên bà T hông thể nợ số tiền đó là quá lớn.

Từ ngày 10/5 đến 11/6/2016 bà T có nợ bà D là 454.630.000 đồng nh ng bà T đã trả hết số nợ sau hi bà D ết sổ.

Từ ngày 14/6 đến 26/6/2016 bà T có nợ bà D là 427.550.000 đồng nh ng bà T đã trả hết số nợ sau hi bà D ết số.

Năm 2017 bà T có nợ bà D số tiền 165.350.000 đồng là đúng và sau đó bà T trả cho bà D 02 l n vào ngày 09/4 là 95.000.000 đồng, ngày 20/4 trả 34.000.000 đồng và ngày 16/5 trả 15.000.000 đồng.

Từ ngày 14/12 đến ngày 19/12/2017 (AL) bà T có nợ bà D tổng cộng số tiền là 348.815.000 đồng, sau đó bà T đã trả cho bà D số tiền 50.000.000 đồng, cuối năm bà D cho các bạn hàng tiền tết là 10.000.000 đồng nên tính đến nay bà T c n nợ bà D số tiền là 288.810.000 đồng.

Ngày 29/11/2016 bà T có ghi 5.360.000.000 (năm t 3 trăm 60 triệu) và D có giữ một sổ đất của bà T là do chính tay bà T viết, vì bà D có nhờ bà T ghi d m để bà D nói với chồng bà D nên bà T viết d m chứ số tiền đó hông phải là số tiền mà bà T nợ bà D. Nếu bà T nợ thì bà T viết có nợ của bà D số tiền 5.360.000.000 (năm t 3 trăm 60 triệu) vả lại nếu bà T có nợ số tiền đó thì bà D sẽ hông làm ăn với bà T đến năm 2018, sau năm 2018 bà T và bà D không làm ăn nữa.

Ngoài ra, hiện nay bà D c n giữ của bà T một Giấy chứng quyền sử d ng đất số BX 073498 do UBND huyện H cấp ngày 28/10/2014 theo thửa đất số 103, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.751m2 mang tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyên uốc T2.

Nay bà Đào Thị D yêu c u bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 phải trả số tiền 6.190.900.000 đồng (sáu tỷ một trăm chín m ơi triệu chín trăm ngàn đồng) thì bà T hông đồng . Bà D ơng Thị Thanh T đồng trả cho bà Đào Thị D số tiền 288.810.00 đồng (hai trăm tám m ơi tám triệu tám trăm m ời ngàn đồng). Ngoài ra yêu c u bà Đào Thị D phải trả cho bà D ơng Thị Thanh T một Giấy chứng quyền sử d ng đất số BX 073498 do UBND huyện H cấp ngày 28/10/2014 theo thửa đất số 103, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.751m2 mang tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

*Trong qu trình giải quyết vụ n người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông ương Thanh D1 trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của bà Đào Thị D, yêu c u vợ chồng bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 phải trả cho ông L ơng Thanh D1 và bà Đào Thị D số tiên 6.190.900.000 đồng (Sáu tỷ một trăm chín m ơi triệu chín trăm ngàn đồng). Sau hi nhận tiền trên thì vợ chồng bà D sẽ hoàn trả cho vợ chồng bà T và ông T1 một Giấy chứng quyền sử d ng đất số BX 073498 do UBND huyện H cấp ngày 28/10/2014 theo thửa đất số 103, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.751m2 mang tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

*Trong qu trình giải quyết vụ n người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 trình bày:

Ông T1 hông đồng với yêu c u của bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 là buộc vợ chồng ông phải trả số tiền 6.190.900.000 đồng (Sáu tỷ một trăm chín m ơi triệu chín trăm ngàn đồng).

Ông T1 đồng c ng với vợ là bà D ơng Thị Thanh T trả cho bà Đào Thị D số tiền là 288.810.000 đồng (Hai trăm tám m ơi tám triệu tám trăm m ời ngàn đồng). Ngoài ra yêu c u bà Đào Thị D phải trả cho bà D ơng Thị Thanh T một Giấy chứng quyền sử d ng đất số BX 073498 do UBND huyện H cấp ngày 28/10/2014 theo thửa đất số 103, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.751m2 mang tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024, T a án nhân dân huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận đã quyết định:

Căn cứ: hoản 2, hoản 3 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; hoản 1 Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015; Điều 430, Điêu 440 Bộ luật dân sự năm 2015; hoản 4, hoản 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH- H14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Th ờng v uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án; Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một ph n yêu c u h i iện của nguyên đơn bà Đào Thị D, buộc vợ chồng bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 có nghĩa v liên đới trả cho vợ chồng bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 số tiền c n nợ 299.300.000 đồng (Hai trăm chín m ơi chín triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày uyết định này có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu c u thi hành án (Đối với hoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến hi thi hành xong tất cả các hoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ tr ờng hợp pháp luật có quy định hác.

2. Chấp nhận yêu c u phản tố của bị đơn bà D ơng Thị Thanh T, buộc vợ chồng bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BX 073498 ngày 28/10/2014 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 cho bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 phải liên đới chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 113.891.600 đông (Một trăm m ời ba triệu tám trăm chín m ơi mốt nghìn sáu trăm đồng) và 300.000 đồng (ph n phản tố của bị đơn đ ợc châp nhận) nh ng đ ợc hấu trừ số tiền 57.095.000 đồng (Năm m ơi bảy triệu hông trăm chín m ơi lăm ngàn đồng) mà bà Đào Thị D đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0001002 ngày 03/3/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 phải tiếp t c nộp số tiền 57.096.600 đồng (Năm m ơi bảy triệu hông trăm chín m ơi sáu nghìn sáu trăm đồng).

- Buộc bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 phải liên đới chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 14.965.000 đồng (M ời bốn triệu chín trăm sáu m ơi lăm nghìn đồng). Hoàn trả cho bà D ơng Thị Thanh T số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0002045 ngày 31/8/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm c n tuyên về quyền háng cáo, quyền và nghĩa v thi hành án của các đ ơng sự.

Ngày, 17/4/2024 nguyên đơn Đào Thị D và ng ời có quyền lợi nghĩa v liên quan là ông L ơng Thanh D1 háng cáo yêu c u sửa bản án sơ thẩm theo h ớng chấp nhận toàn bộ yêu c u h i iện của nguyên đơn.

Tại phiên t a phúc thẩm:

- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu c u háng cáo

- Bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết v án: Th

, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố t ng dân sự; ng ời tham gia tố t ng chấp hành pháp luật. Về nội dung: Căn cứ hoản 2 Điều 308 BLTTDS đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một ph n háng cáo của bà Đào Thị D, ông L ơng Thanh D1, sửa một ph n Bản án sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 09/4/2024 của TAND huyện Bắc Bình (nay là TAND hu vực 13) theo h ớng buộc bị đơn trả hoản tiền c n nợ sau hi đã trừ các hoản do bị đơn chứng minh đã trả cho nguyên đơn. Tại biên bản ghi lời hai ngày 06/4/2023 (BL số 263-264) và tại phiên t a, bà T thừa nhận số tiền nợ bà D từ 2015 đến 2017 là 1.185.950.000 đồng (198.450.000 đồng + 427.500.000 + 260.640.000 + 289.810.000). Đề nghị căn cứ sự thừa nhận nợ của bà T để buộc trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ v án đã đ ợc thẩm tra tại phiên t a phúc thẩm; trên cơ s xem xét đ y đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, iến trình bày tại phiên t a của các đ ơng sự, iến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Luật s bảo vệ nguyên đơn và ng ời có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng mặt, nh ng đã có văn bản đề nghị xử vắng mặt. Do đó T a án vẫn tiến hành xét xử.

Xét háng cáo của bà Đào Thị D, ông L ơng Thanh D1, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và lời hai của các đ ơng sự trong quá trình giải quyết v án, thấy rằng:

Bà Đào Thị D yêu c u bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 phải trả số tiền 6.190.900.000 đồng.

Bà D ơng Thị Thanh T ch đồng trả cho bà Đào Thị D số tiền 288.810.000 đồng. Ngoài ra yêu c u bà Đào Thị D phải trả cho bà D ơng Thị Thanh T một Giấy chứng quyền sử d ng đất số BX 073498 do UBND huyện H cấp ngày 28/10/2014 theo thửa đất số 103, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.751m² mang tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

Các đ ơng sự đều thống nhất hai bên có làm ăn mua bán với nhau, bà D là ng ời thu mua hải sản để bán lại cho các tiểu th ơng, trong đó có bà T (là ng ời chuyên inh doanh dịch v tổ chức tiệc c ới, hỏi, sinh nhật). Hai bên có thỏa thuận hi nào bà T c n mặt hàng gì thì gọi điện thoại cho bà D, sau đó bà D đi thu mua lại của ng ời hác để vận chuyển hoặc gửi ôtô xe hách cho bà T. Sau hi nhận đ ợc hàng thì bà T thanh toán theo hình thức “gối đ u”, có nghĩa là lấy toa hàng sau thanh toán cho toa hàng tr ớc.

Để chứng minh cho yêu c u của mình bà D cung cấp các sổ theo dõi bán hàng, tuy nhiên nội dung ghi chép trong các cuốn sổ hông rõ ràng, c thể, hông liền mạch từ năm này sang năm hác nên hông đủ căn cứ ết luận số tiền nợ giữa bà D và bà T qua từng năm là bao nhiêu, đến nay đã trả bao nhiêu và c n nợ bao nhiêu. Chữ viết trong các cuốn sổ h u nh là của bà D theo dõi và tự ghi chép chứ hông có chữ xác nhận nợ vào từng đơn hàng của bà T. Quá trình mua bán cũng nh hồ sơ cơ quan điều tra cung cấp, file ghi âm nguyên đơn cung cấp, hai bên cũng hông thống nhất đ ợc số nợ.

Nay nguyên đơn h i iện trên cơ s giấy bị đơn đã ghi ngày 29/11/2016, theo đó nội dung; “29/11/2016- 5.360.000.000-năm t 3 trăm 60 triệu, D giữ 1 sổ đỏ đất của T” trong cuốn sổ màu đen do bà D cung cấp và bà T thừa nhận chữ viết và chữ là của bà T.

Bà T cho rằng bà viết giấy này do bà D nhờ để bà D đ a cho chồng bà D, nhằm để bà D l giải chuyện tiền bạc với chồng bà D, chứ hông phải là tiền bà T nợ bà D. Việc giao giấy chứng nhận quyền sử d ng đất là bà T cho bà D m ợn đi thế chấp, hết hạn sử d ng thì bà T gia hạn và cho bà D m ợn lại. Xét thấy lời giải thích của bà T về việc viết d m để bà D đ a cho chồng bà D và cho m ợn giấy tờ đất để bà D đi vay tiền là hông thuyết ph c, hông hợp lý. Mà có căn cứ để xác định việc viết giấy là do có nợ từ việc mua bán hàng hóa và việc đ a sổ là để làm tin cho hoản nợ nh bà D trình bày, vì các bên có quan hệ mua bán đã nhiều năm, từ năm 2003. Lời trình bày của bà D có cơ s thuyết ph c hơn.

Do bà T nợ nhiều nh ng hông trả nên phía bà D đã nhiều l n đ i nợ. Do hông đ i đ ợc nên bà D tố cáo bà T đến cơ quan Công an, cho rằng bà T lạm d ng tín nhiệm, chiếm đoạt tiền của bà D, bà T có hả năng trả nợ nh ng hông trả. Kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm đã đ ợc Cơ quan CSĐT Công an t nh B ra Thông báo số 399/VPC CSĐT ngày 31/8/2020. Trong đó xác định nội dung hai bên có quan hệ mua bán hàng hóa, giám định các đoạn ghi âm do bà D cung cấp thể hiện những lời nói của bà T thừa nhận việc nợ tiền và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Giám định chử viết, chử thì xác định trang giấy ghi số tiền 5.360.000.000 đồng là do bà T viết và . Tuy nhiên do sổ sách ghi chép việc mua bán của bà D hông rõ ràng, hông thể làm rõ số tiền bà T đã nợ bà D, cơ quan tố t ng hình sự đánh giá hông có căn cứ chứng minh việc bà T chiếm đoạt tiền của bà D.

Xét thấy, bà D và bà T đều xác định việc viết tờ giấy ghi số tiền 5.360.000.000 đồng là do bà D yêu c u bà T ghi, khi bà T đang đi làm đám tiệc, gọi ra ngã ba T ghi, hi đó bà T hông đ ợc đối chiếu sổ sách cũ. Hiện nay bà D cũng hông c n các sổ sách cũ để đối chiếu làm căn cứ để xác định số tiền chính xác thời điểm chốt nợ ngày 29/11/2016 là 5.360.000.000 đồng.

Tại biên bản ghi lời hai ngày 06/4/2023 và tại phiên t a sơ thẩm, bà T thừa nhận số tiền nợ bà D từ 2015 đến 2017 là 1.185.950.000 đồng. Tuy nhiên, tr ớc đó tại các cuộc nói chuyện hi đôi bên đ i nợ nhau, đ ợc giám định theo ết luận giám định số 1659/C09B ngày 07/6/2019 của Phân viện hoa học hình sự - Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh thì bà T có nhiều lời nói thừa nhận việc có nợ, với số tiền nợ năm 2014 là một tỷ mấy, năm 2015 là một tỷ tám m ơi mấy triệu và năm 2016 là hai tỷ mấy. Bà T nói bà hông chối bỏ tiền nợ, nh ng hông ngờ nợ tới con số này, từ hồi nào đến giờ trong đ u bà ch nhớ 2 tỷ mấy. Ngày 06/4/2023, bà T có nộp cho T a án cấp sơ thẩm tài liệu chứng cứ, trong đó có một tờ giấy phô tô mà bà T ghi chú là phô tô từ sổ của bà D, ph n trên của tờ giấy có ghi các con số và cuối tờ giấy này có d ng chử “tính đến 11/12=2014 1839.567000đ”. Mặc d đây là tờ giấy phô tô, nh ng bà T ghi chú là phô tô từ sổ của bà D, và chứng cứ này do chính bà T nộp, ph n cuối tờ giấy thể hiện cuối năm 2014 số tiền là 1839.567000đ. Chứng cứ này ph hợp với ết quả giám định các bản ghi âm.

Xét thấy, tờ giấy ghi số tiền 5.360.000.000 đồng đ ợc xác lập trong bối cảnh các bên ch a đối chiếu đ y đủ giấy tờ, hiện tại nguyên đơn cũng hông có tài liệu chứng minh số tiền nợ chính xác nh tờ giấy trên. Do đó căn cứ vào sự thừa nhận của bị đơn về số nợ, c thể là chứng cứ do bị đơn nộp và ết quả giám định ghi âm, trong đó bị đơn thừa nhận tr ớc giờ vẫn nhớ là ch nợ 2 tỷ mấy. Mặc d bị đơn thừa nhận số nợ là hai tỷ mấy, nh ng sự thừa nhận này hông có con số chính xác, c thể. Do đó T a án cấp phúc thẩm xác định số nợ là 1.839.567.000đ nh tờ giấy bị đơn cung cấp, bị đơn l u giữ tờ giấy này và cung cấp cho T a, thể hiện bị đơn xác định số nợ. Bị đơn cho rằng đã trả nợ nh ng hông chứng minh đ ợc việc trả nợ, và các lời nói cho thấy bị đơn vẫn c n nợ nh đã nêu trên.

Các hoản nợ phát sinh của các năm sau mà nguyên đơn h i iện thì sổ sách do nguyên đơn tự lập, hông có sự thừa nhận của bị đơn. Bị đơn ch chấp nhận trả 299.300.000 đồng nh án sơ thẩm đã xác định hoản nợ phải trả của năm 2017. Cấp phúc thẩm xét thấy các hoản nợ của giai đoạn sau hi lập giấy năm 2016, nguyên đơn hông ghi rõ ràng và hông có sự thừa nhận của bị đơn nên hông có căn cứ chấp nhận.

Từ phân tích m c [2], xét thấy háng cáo của nguyên đơn là có căn cứ, T a án cấp sơ thẩm ch a đánh giá toàn diện chứng cứ, c n sửa án sơ thẩm, chấp nhận một ph n háng cáo của nguyên đơn, xác định số nợ phải trả thêm nh phân tích m c [2.4], gồm hoản tiền 1.839.567.000đ và hoản tiền 299.300.000 đồng.

Do xác định lại trách nhiệm trả nợ và việc bị đơn giao giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho nguyên đơn là để làm tin, nên ph n phản tố của bị đơn về yêu c u trả giấy chứng nhận cũng hông đ ợc chấp nhận. Việc các bên giao giấy cho nhau để đảm bảo cho hoản nợ là hông trái quy định của pháp luật, giấy chứng nhận này sẽ đ ợc trả hi bị đơn thực hiện nghĩa v trả nợ đối với nguyên đơn hoặc để xử l tài sản hi thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bản án bị sửa nên T a án cấp phúc thẩm xác định lại án phí theo quy định tại hoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án.

Nguyên đơn phải chịu ph n án phí t ơng ứng với yêu c u hông đ ợc T a án chấp nhận 6.190.900.000 đồng – (299.300.000 đồng + 1.839.567.000 đồng) = 4.052.033.000 đồng.

Bị đơn chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 2.138.867.000 đồng, và án phí do phản tố hông đ ợc chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do háng cáo đ ợc chấp nhận, nguyên đơn hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố t ng dân sự; chấp nhận một ph n háng cáo của bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1, sửa Bản án sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024 của T a án nhân dân huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận (nay là T a án nhân dân hu vực 13 – t nh Lâm Đồng).

Căn cứ: hoản 2, hoản 3 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; hoản 1 Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015; hoản 4, hoản 5 Điều 26, hoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTV H- H14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Th ờng v uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án; Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một ph n yêu c u h i iện của nguyên đơn bà Đào Thị D, buộc vợ chồng bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 có nghĩa v liên đới trả cho vợ chồng bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 số tiền 2.138.867.000 đồng (Hai tỷ một trăm ba m ơi tám triệu tám trăm sáu m ơi bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các tr ờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ tr ờng hợp pháp luật có quy định hác.

2. Không chấp nhận yêu c u phản tố của bị đơn bà D ơng Thị Thanh T, về việc buộc vợ chồng bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BX 073498 ngày 28/10/2014 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 cho bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 phải liên đới chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 112.052.033 đồng (Một trăm m ời hai triệu hông trăm năm m ơi hai ngàn hông trăm ba m ơi đồng), nh ng đ ợc hấu trừ số tiền 57.095.000 đồng (Năm m ơi bảy triệu hông trăm chín m ơi lăm ngàn đồng) mà bà Đào Thị D đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0001002 ngày 03/3/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 phải tiếp t c nộp số tiền 54.957.033 đồng (Năm m ơi bốn triệu chín trăm năm m ơi bảy ngày hông trăm ba m ơi ba đồng).

- Buộc bà D ơng Thị Thanh T và ông Nguyễn uốc T1 phải liên đới chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 74.777.340 đồng (bảy m ơi t triệu bảy trăm bảy m ơi bảy ngàn ba trăm bốn m ơi đồng) và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), tổng cộng là 75.077.340 đồng (bảy m ơi lăm triệu hông trăm bảy m ơi bảy ngàn ba trăm bốn m ơi đồng). Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đông) bà T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0002045 ngày 31/8/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận (nay là Ph ng Thi hành án dân sự hu vực 13, t nh Lâm Đồng). Số tiền án phí bà T và ông T1 c n phải liên đới nộp là 74.777.340 đồng (bảy m ơi t triệu bảy trăm bảy m ơi bảy ngàn ba trăm bốn m ơi đồng).

Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Đào Thị D và ông L ơng Thanh D1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã đóng mỗi ng ời là 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng số 0008743 và 0008744 ngày 03/5/2024 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận (nay là Ph ng Thi hành án dân sự hu vực 13, t nh Lâm Đồng).

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án (10/11/2025).

Cỡ chữ