vanban.org

Bản án 319/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Huế C. Cho bà Mai Thị H Chân được ly hôn với ông Đặng Hoàng S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 78, do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang, cấp ngày 28 tháng 4 năm 2021 cho bà Mai Thị Huế C và ông Đặng Hoàng S không còn giá trị pháp lý. Về con chung: giao con chung Đặng Mai Bảo N, sinh ngày 22/10/2021 cho bà Mai Thị H Chân tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Huế C. Cho bà Mai Thị H Chân được ly hôn với ông Đặng Hoàng S.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:319/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/12/2024
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi
con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trí và bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 694/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 964/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 565/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mai Thị Huế C, sinh năm 1991; địa chỉ: số C, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, (có đơn xin xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Đặng Hoàng S, sinh năm 1989; địa chỉ: số H, tổ C, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Mai Thị H Chân trình bày: Bà và ông Đặng Hoàng S tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 28/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 4/2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông S. Về con chung: có con chung Đặng Mai Bảo N, sinh ngày 22/10/2021. Sau khi ly hôn, bà Huế C yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Tờ tự khai và đơn khởi kiện ngày 24/10/2024; trích lục kết hôn số 78 ngày 28/4/2021; giấy khai sinh (bản sao).

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để động viên bà C, ông S xóa bỏ những bất đồng quan điểm, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà C vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con; ông S được triệu tập nhưng đều vắng mặt, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với bà C. Vì vậy, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật. Tại Biên bản xác minh nơi cư trú do cán bộ Tòa án lập được Ban ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang xác nhận thông tin ông Đặng Hoàng S vẫn còn cư trú tại địa bàn ấp.

Tại phiên tòa, bà C có đơn xin vắng, vẫn giữ nguyên toàn bộ ý kiến yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông S. Ông S vắng mặt nên Tòa án không thể hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án: Bà C và ông S tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 28/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang thuộc trường hợp hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 4/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn bà C yêu cầu ly hôn với ông S. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên có cơ sở xem xét. Về con chung: có con chung là Đặng Mai Bảo N, sinh ngày 22/10/2021. Sau khi ly hôn, bà C yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung; Đánh giá kể từ thời điểm vợ chồng ly thân, con chung sống cùng với ông C phát triển ổn định về thể chất, tinh thần nên giao cháu cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề xuất: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Mai Thị Huế C đối với ông Đặng Hoàng S. Giao con chung Đặng Mai Bảo N cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Mai Thị Huế C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đặng Hoàng S được xác định là tranh chấp“Ly hôn, nuôi con”quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Về tính hợp pháp: bà C và ông S tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 28/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang thuộc trường hợp hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.

Về tình trạng hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2024 thì bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn và ly thân cho đến nay; bà C yêu cầu ly hôn, ông S không phản hồi, không có mặt theo giấy triệu tập. Bà C xác định không còn tình cảm với ông S và kiên quyết xin được ly hôn; Với những căn cứ trên, có cơ sở xác định hôn nhân giữa bà C, ông S phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của bà C xin ly hôn với ông S theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: vợ chồng có con chung Đặng Mai Bảo N, sinh ngày 22/10/2021. Sau khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; Đánh giá việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, sự phát triển về mọi mặt của con. Từ khi bà C và ông S ly thân, cháu N sống cùng với bà C vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Để ổn định cho cuộc sống của cháu, nên để bà C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và nuôi dưỡng; do bà Chân K yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập;

Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Ông S không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Huế C. Cho bà Mai Thị H Chân được ly hôn với ông Đặng Hoàng S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 78, do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang, cấp ngày 28 tháng 4 năm 2021 cho bà Mai Thị Huế C và ông Đặng Hoàng S không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: giao con chung Đặng Mai Bảo N, sinh ngày 22/10/2021 cho bà Mai Thị H Chân tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Đặng Hoàng S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Mai Thị Huế C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Đặng Hoàng S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Đặng Mai Bảo N.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Bà Mai Thị Huế C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0023516 ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; bà C đã nộp xong. Ông Đặng Hoàng S không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bà Mai Thị Huế C, ông Đặng Hoàng S, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ