- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 319/2023/HS-ST Ngày 12/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Thuý Hà
Bà Nguyễn Thị Anh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - là thư ký Tòa án nhân dân quận B
- Đại diện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại phòng xét xử trực tuyến – Tòa án nhân dân Thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 313 /2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2023/QĐ- ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1990; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; HKTT: xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn C (Đã chết); Con bà: Ngô Thị C (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Ngọc A sinh năm 1993 (đã ly hôn) ; Có 01 con sinh năm 2013. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất. Danh bản, chỉ bản số 431 lập ngày 18/8/2023 tại công an quận Bắc Từ Liêm; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/ 8/2023. Hiện đang tạm giam tại trại giam số 1
- Công an Thành phố Hà Nội.
(Có mặt tại phòng xét xử trực tuyến Trại giam số 1 – Công an Thành phố Hà Nội).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy heroine nên qua bạn bè xã hội giới thiệu nên Nguyễn Văn N biết nhà số 40 ngõ 36 đường T, phường T, quận B, TP H có người tên “Quảng” bán ma túy. Khoảng 8h30 ngày 09/8/2023, N tìm đến địa chỉ trên để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi N đứng ngoài hỏi: “có bán ma túy không?” bên trong có giọng nói của người đàn ông đáp: “có”. Sau đó N lấy 500.000 đồng và đưa qua khe cửa, bên trong ném ra cho N 01 (một) gói nilong màu hồng bên trong chứa ma túy Heroine. Sau khi lấy được ma túy N cầm ma túy ở tay trái và đi ra đường T để tìm nơi sử dụng. Khi đi đến trước cửa số nhà số 37 ngõ 2 đường Tây Tựu thì bị tổ công tác Công an phường T, quận B phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn N:
- 01 gói ni lông màu hồng bên trong có gói giấy màu trắng kẻ ngang chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy.
Ngày 09/8/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B có Quyết định số 482 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP H giám định ma túy thu giữ của Nguyễn Văn Ngọc.
Kết luận giám định số 5431 ngày 16/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H xác định: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy trắng kẻ ngang (ngoài bọc nilong màu hồng) là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,301 gam.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn N : N khai không biết mặt người bán ma túy cho mình chỉ biết đến nhà số 40, ngõ 36 đường T, phường T, quận B, TP. H liên hệ mua ma túy qua khe cửa và không biết ai là người bán ma túy trong nhà.
Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải Nguyễn Văn N đến địa điểm N khai mua ma túy xác định địa điểm tại số 40 ngõ 36 đường T, phường T, quận B, TP H, tại địa chỉ nhà này có 03 người gồm: Chu Thiên Q (SN 1967, HKTT: TDP Hạ 9, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, TP. H ), con trai Chu Thiên T (SN 1991, HKTT: TDP Hạ 9, phường Tây Tựu, quận B, TP. H), con dâu Nguyễn Thị T (SN 1990, HKTT: TDP Hạ 9, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội) đang ở. Tại cơ quan điều tra điều tra, Q, T, T khai sáng ngày 09/8/2023, gia đình có ở nhà nhưng không thấy ai đến. Cả ba người này đều khai không bán ma túy và không biết ai là người bán ma túy cho Ngọc. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà số 40 ngõ 36 đường Trung Kiên, phường Tây Tựu, quận B, TP. H không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B đã tiến hành rà soát nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng bán ma túy nên không có căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý.
Đối với số ma túy của Nguyễn Văn N quá trình điều tra xác định là vật chứng liên quan trực tiếp đến vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ, chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.
Bản cáo trạng số 310/CT - VKS ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù;
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Văn N, cán bộ công an phường và giám định viên;
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm; Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khách quan khác, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 9h ngày 09/8/2023, tại trước cửa số nhà 37 thuộc tổ dân phố Hạ 9, phường T, quận B, TP H, Nguyễn Văn N có hành vi cất giấu trái phép 0.301 gam Heroin, với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường T bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là chất gây nghiện, làm tổn hại đến sức khoẻ và là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh AIDS, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Đảng và Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên HĐXX cũng xem xét thái độ khai báo thành khẩn tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, nhân thân bị cáo tốt, lần đầu bị đưa ra xét xử để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về tình tiết tăng nặng: không
. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn N là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
.Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang ngày 09/8/2023.
Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
3. Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì niêm phong chứa tang vật hoàn trả sau thu mẫu giám định, bên ngoài có chữ kí giáp lai của đối tượng Nguyễn Văn N, Giám định viên cùng cán bộ niêm phong và hình dấu của Cơ quan công an.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 57/24 ngày 23/11/2023 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm)
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng - VKS ND quận B - Công an quận B - Chi cục THA dân sự quận B - Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tuyết |