vanban.org

Bản án 319/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Bùi Xuân H.

Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Xuân H có 01 (một) con chung là cháu Bùi Văn N, sinh ngày 09/11/2010. Giao con chung là Bùi Văn N cho chị Bùi Thi P1 được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Bùi Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Bùi Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 12 - 2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đăng Thiện

2. Ông Nguyễn Văn Sâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2023 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Bùi Xuân H, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn G, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 6 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Bùi Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Xuân H tự nguyện tìm hiểu, lấy nhau có tổ chức cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Thạch Thành vào ngày 08/3/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 1 năm, thì đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng trong sinh hoạt gia đình, anh H không tu chí làm ăn, mà thường xuyên uống rượu về say xỉn, chửi bới xúc phạm vợ con, nhiều lần còn đánh đập chị, chị đã cố gắng chịu đựng để nuôi con, nhưng anh H không thay đổi, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trâm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Từ cuối năm 2011 chị và con đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở xã T, huyện T sinh sống, nên vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên chị đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị P xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Văn N, sinh ngày 09/11/2010, hiện nay con đang ở với chị. Ly hôn nguyện vọng của chị là xin được trực tiếp nuôi con chung; chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng.

Về tài sản và công nợ: Chị P xác định vợ chồng không có gì, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Bùi Xuân H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.

Tại bản tự khai ngày 27/10/2023 cháu Bùi Văn N có lời khai thể hiện nguyện vọng xin được ở với mẹ (chị P), nếu Tòa án giải quyết ly hôn.

Tại biên bản xác minh lập ngày 31/10/2023, đại diện UBND xã X cho biết: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Xuân H có quan hệ là vợ chồng. Qúa trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Văn N, sinh ngày 09/11/2010, hiện tại con chung đang ở với chị P. Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng địa phương không rõ, vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải cơ sở. Hiện nay chị P đã về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở huyện T, không có mặt tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:

I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng: Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Bùi Xuân H.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Văn N cho chị Bùi Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Bùi Xuân H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Bùi Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ: Không xem xét.

- Về án phí: Buộc chị Bùi Thi P1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Bùi Thị P khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Bùi Xuân H, cư trú tại: Thôn G, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Xuân H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn là chị Bùi Thị P vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị P và anh Bùi Xuân H là hôn nhân hợp pháp, anh chị tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/3/2010. Trong qúa trình chung sống, từ sau khi kết hôn được khoảng 1 năm, thì tình cảm giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong sinh hoạt gia đình, giữa vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trọng và chia sẻ với nhau trong công việc cũng như sinh hoạt gia đình, nên đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và xúc phạm nhau. Từ cuối năm 2011 chị P đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân cho đến nay. Qúa trình giải quyết vụ án, chị P một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn, còn anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh H không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị P, xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Bùi Xuân H.

Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Xuân H có 01 con chung là cháu Bùi Văn N, sinh ngày 09/11/2010.

Xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của chị P, thấy rằng: Thực tế hiện nay con chung là cháu N đang ở với chị P, đã được chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tốt; quá trình giải quyết vụ án, chị P đã chứng minh được mình có đủ các điều kiện để nuôi con tốt; con chung là cháu N cũng có lời khai thể hiện nguyện vọng xin được ở với mẹ (chị P), trong khi anh H không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến về nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần thiết giao con chung cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là sự tự nguyện của chị P và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do đo, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về phần tài sản và công nợ: Chị Bùi Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Bùi Xuân H không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, không xem xét.

Về án phí: Chị Bùi Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vê quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Bùi Xuân H.

2. Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Xuân H có 01 (một) con chung là cháu Bùi Văn N, sinh ngày 09/11/2010.

Giao con chung là Bùi Văn N cho chị Bùi Thi P1 được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Bùi Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Bùi Xuân H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và công nợ: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Bùi Thi P1 phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị P1 đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0016290 ngày 18/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Như vậy, chị Bùi Thị P đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ