vanban.org

Bản án 319/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Minh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 319/2022/HS- ST
Ngày: 30- 9- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Anh Thƣ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn

Ông Từ Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 255/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 300/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm 1976, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: phƣờng L, thị xã Th, tỉnh Ngh; nơi cƣ trú: khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957; bị cáo có 04 anh em (lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1983); bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 và 01 con, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 72/HSST ngày 12/10/1998 Tòa án nhân dân huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 05/8/1999 chấp hành xong hình phạt tù. Đối với phần án phí bị cáo đã nộp, phần bồi thƣờng bị hại không làm đơn yêu cầu thi hành án.

- Bản án số 72/HSST ngày 15/9/1999, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 05/11/2000 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Đối với phần án phí bị cáo đã nộp; phần bồi thƣờng bị hại không làm đơn yêu cầu thi hành án.

- Bản án số 86//2010/HSS ngày 16/4/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”, ngày 27/12/2010 chấp hành xong hình phạt tù. Về án phí bị cáo đã đóng xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Lê Xuân Qu, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: xã X, huyện Th, tỉnh Th; trú tại: đƣờng số 01, khu phố Th, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1983, địa chỉ: khu phố 8, thị trấn U, thị xã T, tỉnh B. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Ghi Ta N, sinh năm 1995; vắng mặt.

+ Trƣơng Quang D, sinh năm 1993; vắng mặt.

+ Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; vắng mặt.

+ Hà Ngọc Th, sinh năm 1988; vắng mặt.

+ Nông Văn H, sinh năm 1995; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn M và Nguyễn Công N là bạn bè, cùng quê Nghệ An và làm ăn chung với nhau. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/01/2022, Nguyễn Công Nam điều khiển xe ô tô hiệu Mazda 6, màu trắng biển số 61A- 698.75 (mƣợn của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; HKTT: Tổ 5, khu phố 8, phƣờng Uyên Hƣng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng) chạy đến quán cà phê thuộc khu phố Tân Long, phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An để rủ Nguyễn Văn M đi dạo. Do N đã uống rƣợu bia nên giao cho M điều khiển xe ô tô biển số 61A-698.75 chở N. Khi M chở N chạy đến trƣớc quán bò “Minh Trâu 16” địa chỉ số 1, đƣờng số 1, khu phố Thống Nhất 1, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì N nói M dừng xe. N mở cửa bƣớc xuống xe và nói “Qu ơi, Qu ơi”. Khoảng 02 phút sau M nhìn thấy hai tay N cầm hai con dao dài khoảng 70cm đi vào trong quán lẩu bò Minh Châu 16. Thấy hai bên đánh nhau nên M lấy cái búa rìu để ở ghế sau xe chạy vào trong quán, khi đi đến cửa quán thấy có 01 con dao dài khoảng 50cm nên M cầm dao tay phải, búa tay trái chạy vào chỗ N và Qu đang đánh nhau. M thấy N bị ngã và cánh tay trái bị thƣơng chảy máu. Thấy Minh đi vào Qu tay đang cầm con dao bầu xông đến chém M, M né đƣợc và M vung dao chém lại Qu 03 nhát (một nhát trúng vùng đầu Qu, nhát thứ hai trúng vai trái Qu, nhát thứ ba trúng tay phải Qu). Anh Qu bị chém cố gắng vùng dậy chạy ra phía ngoài đƣờng thì bị té ngã. Lúc này, anh Nguyễn Ghi Ta N đang làm việc ở quán cà phê bên cạnh nhìn thấy nên chạy đến đỡ anh Qu thì bị N chém trúng ngón 3 tay phải và vết thƣơng mặt lòng ngón 5 tay phải.

Trong lúc đánh nhau N bị thƣơng tích hai ngón tay phải và thƣơng tích khuỷa tay trái (chƣa xác định rõ ai gây thƣơng tích cho N). Lúc này, lực lƣợng Công an phƣờng Dĩ An tuần tra phát hiện mời M cùng các đối tƣợng có liên quan về trụ sở làm việc, thu giữ vật chứng của vụ án tại hiện trƣờng để điều tra theo quy định. Tại cơ quan Công an, M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Anh Qu đƣợc đƣa đi phòng khám đa khoa Ngọc Hồng điều trị thƣơng tích, N đƣa đến bệnh viện Chợ Rẫy điều trị, còn anh Nguyễn Ghi Ta N đƣợc đƣa đi bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ - Thủ Đức điều trị.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 cây kiếm bằng kim loại lƣỡi cong dài 70 cm;

+ 01 cây kiếm bằng kim loại dài 68 cm;

+ 01 con dao chặt thịt cán gỗ dài 55 cm;

+ 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 46 cm;

+ 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 49 cm;

+ 01 cây rìu cán gỗ đầu kim loại dài khoảng 36 cm;

+ 01 con dao thái thịt bằng kim loại, cán gỗ dài khoảng 27 cm;

+ 01 con dao thái thịt bằng kim loại, cán gỗ dài khoảng 31 cm;

+ 01 con dao cán gỗ, lƣỡi bằng kim loại dài khoảng 31 cm;

+ 01 xe ô tô hiệu Mazda 6 màu trắng biển số 61A – 698.75;

+ 01 USB chứa hình ảnh camera ngày 15/01/2022.

*) Ngày 21/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trƣng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai giám định pháp y về phần trăm tỷ lệ tổn thƣơng bị hại Nguyễn Ghi Ta N. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0099/TgT/2022 ngày 27/01/2022 kết quả nhƣ sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thƣơng đốt xa ngón 3 tay phải kích thƣớc 01 x 0,6. Tỷ lệ: 02%.

- Vết thƣơng đốt giữa ngón 5 tay phải kích thƣớc 25 x 0,2. Tỷ lệ: 01%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tƣ số 22/2012/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trƣởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Ghi Ta N áp dụng theo phƣơng pháp cộng tại thông tƣ là: 03% (ba phần trăm).

*) Ngày 21/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trƣng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai giám định pháp y về phần trăm tỷ lệ tổn thƣơng bị hại Lê Xuân Qu. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0100/TgT/2022 ngày 27/01/2022 kết quả nhƣ sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thƣơng mẻ lồi cầu trong xƣơng cánh tay phải: Tỷ lệ: 04%.

- Vết thƣơng chẩm trái kích thƣớc 06 x 0,2cm. Tỷ lệ: 02%.

- Vết thƣơng vai trái kích thƣớc 13 x 0,2. Tỷ lệ: 02%.

- Vết thƣơng vùng khuỷu phải kích thƣớc 12 x 0,2. Tỷ lệ: 02%.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tƣ số 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trƣởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Xuân Qu áp dụng theo phƣơng pháp cộng tại thông tƣ là: 10% (mƣời phần trăm).

3. Kết luận khác:

Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, Bình Dƣơng trƣng cầu giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định để đánh giá chức năng vai trái và khủy tay phải do hiện tại các vết thƣơng chƣa lành nên đánh giá chƣa chính xác các di chứng.

*) Ngày 16/03/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trƣng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai giám định bổ sung về tỷ lệ phần trăm thƣơng tật bị hại Lê Xuân Qu. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0279/TgT/2022 ngày 21/03/2022 kết quả nhƣ sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Phần đã đƣợc giám định:

+ Mỏ lồi cầu trong xƣơng cánh tay phải: Tỷ lệ: 04%

+ Vết thƣơng chẩm trái đã liền sẹo đã đƣợc giám định. Tỷ lệ: 02%.

+ Vết thƣơng vùng vai trái đã liền sẹo đã đƣợc giám định. Tỷ lệ: 02%.

+ Vết thƣơng vùng khuỷu phải đã liền sẹo đã đƣợc giám định. Tỷ lệ: 02%.

- Phần giám định bổ sung:

+ Vết thƣơng phức tạp vùng khuỷa phải hiện để lại hạn chế vận động khuỷu phải (cẳng tay phải duỗi từ khoảng trên 05 – 145 độ. Tỷ lệ: 11%.

+ Vết thƣơng phức tạp vùng vai trái hiện để lại hạn chế vận động vai trái 02 động tác. Tỷ lệ: 11%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tƣ số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trƣởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định bổ sung của nạn nhân Lê Xuân Qu áp dụng theo phƣơng pháp cộng tại thông tƣ là: 28% (Hai mƣời tám phần trăm).

3. Kết luận khác: Không

*) Ngày 16/03/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trƣng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai giám định bổ sung về cơ chế hình thành vết thƣơng của bị hại Lê Xuân Qu. Theo Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0282/GĐHS/2022 ngày 06/4/2022 kết quả nhƣ sau:

+ Vết thƣơng chẩm trái để lại dẹo kích thƣớc 06 x 0,2cm. Tổn thƣơng này do vật sắc tác động lực vừa đủ vào vùng chẩm trái theo hƣớng từ sau ra trƣớc và từ trái qua phải chếch từ trên xuống dƣới gây nên.

+ Vết thƣơng vùng bả vai trái để lại sẹo kích thƣớc 13 x 0,2cm, hạn chế gấp duỗi dang vai. Tổn thƣơng này do vật sắc tác động lực vừa đủ vào vùng bả vai trái theo hƣớng từ sau ra trƣớc và chếch từ trên xuống dƣới hoặc trƣợt theo mặt phẳng da gây nên.

+ Vết thƣơng vùng khuỷu phải để lại sẹo kích thƣớc 12 x 0,2cm, mẻ xƣơng có mảnh xƣơng rời vùng mỏm khuỷu (mẻ lồi cầu trong xƣơng cánh tay phải). Tổn thƣơng này do vật sắc tác động lực vừa đủ vào vùng mặt trong khuỷu tay phải theo hƣớng từ trong ra ngoài, từ phải qua trái hoặc có thể theo hƣớng từ trên xuống dƣới khi bị tác động nạn nhân đƣa tay lên đỡ gây nên.

*) Ngày 16/03/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trƣng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai giám định bổ sung về cơ chế hình thành vết thƣơng của bị hại Nguyễn Ghi Ta N. Theo Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0283/GĐHS/2022 ngày 24/3/2022 kết quả nhƣ sau:

+ Vết thƣơng mặt mu đốt xa ngón 3 tay phải kích thƣớc 01 x 0,6cm. Tổn thƣơng do vật sắc tác động trực tiếp vào mặt mu đốt xa ngón 3 tay trái với lực vừa đủ và chiều hƣớng tác động phụ thuộc vào vị trí bàn tay nạn nhân lúc tác động gây nên (theo vị trí giải phẫu hƣớng tác động từ ngoài vào trong, từ phải qua trái).

+ Vết thƣơng mặt lòng đốt giữa ngón 5 tay phải kích thƣớc 05 x 0,2cm. Tổn thƣơng do vật sắc tác động trực tiếp vào mặt lòng đốt giữa ngón 5 tay phải với lực vừa đủ và chiều hƣớng tác động phụ thuộc vào vị trí bàn tay nạn nhân lúc tác động gây nên (theo vị trí giải phẫu hƣớng tác động từ trong ra ngoài, từ trái qua phải).

Ngày 25/01/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn M về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngày 09/5/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Công N về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Công N có dấu hiệu bệnh tâm thần nên cơ quan điều tra tiến hành trƣng cầu giám định tâm thần đối với Nam nhƣng chƣa có kết quả. Ngày 09/5/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi gây thƣơng tích của Nguyễn Công N xử lý sau khi có kết quả giám định tâm thần. Ngày 30/8/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra có quyết định số 05/QĐ- ĐTTH đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Công N.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Xuân Qu yêu cầu Nguyễn Văn M và Nguyễn Công N liên đới bồi thƣờng 440.213.000đ gồm: Chi phí khám chữa bệnh 4.213.000đ, tiền xe đi lại là 3.000.000đ, tiền ăn trong quá trình điều trị 9.000.000đ, tiền mất thu nhập những ngày không làm đƣợc là 400.000đ/ngày x 60 ngày = 24.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần 400.000.000đ.

Anh Nguyễn Ghi Ta N yêu cầu Nguyễn Văn M và Nguyễn Công N liên đới bồi thƣờng 44.774.000đ gồm: Chi phí khám chữa bệnh 14.774.000đ, tiền tổn thất tinh thần và những ngày nghỉ việc không lƣơng là 30.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô Mazda 6, màu trắng, biển số 61A-698.75 đúng tên chị Nguyễn Thị H, chị H cho N mƣợn xe nhƣng không biết việc N sử dụng đi đánh nhau. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị H.

Đối với 01 cây kiếm bằng kim loại lƣỡi cong dài 70cm, 01 cây kiếm bằng kim loại dài 68cm, 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 49cm, 01 cây rìu cán gỗ đầu kim loại dài khoảng 36cm, 01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 27cm,01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 31cm, 01 con dao cán gỗ lƣỡi kim loại dài khoảng 31m không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Theo bản cáo trạng số 276/CT- VKS- DA ngày 29/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nhƣ nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng: 01 cây kiếm bằng kim loại lƣỡi cong dài 70cm, 01 cây kiếm bằng kim loại dài 68cm, 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 49cm, 01 cây rìu cán gỗ đầu kim loại dài khoảng 36cm, 01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 27cm,01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 31cm, 01 con dao cán gỗ lƣỡi kim loại dài khoảng 31m không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thƣờng cho bị hại Qu số tiền chi phí điều trị thƣơng tích, tiền tổn thất tinh thần theo quy định.

Tại phiên toà bị hại giữ nguyên yêu cầu bồi thƣờng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho bị hại tiền chi phí khám chữa bệnh, chi phí đi lại, chi phí bồi dƣỡng, tiền công lao động những ngày bị mất của bị hại. Đối với tiền bồi thƣờng tổn thất về tinh thần đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo sớm trở về chăm lo cho mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 15/01/2022, tại quán bò “Minh Trâu 16” địa chỉ số 1, đƣờng số 1, khu phố Thống Nhất 1, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xảy ra mâu thuẫn đánh nhau, Nguyễn Văn M dùng tay phải cầm con dao chém bị hại Lê Xuân Qu 03 nhát (một nhát trúng vùng đầu Qu, nhát thứ hai trúng vai trái Qu, nhát thứ ba trúng tay phải Qu). Tỷ lệ thƣơng tích của anh Qu là 28%.

Hành vi của bị cáo M dùng dao gây thƣơng tích cho bị hại đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” đƣợc quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, nhƣng để bảo vệ đồng bọn nên đã cầm dao thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, khi quyết định mức hình phạt cần xem xét cho phù hợp với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã gây ra.

3 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình nộp 50.000.000đ bồi thƣờng cho bị hại tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

4 Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

5 Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 cây kiếm bằng kim loại lƣỡi cong dài 70cm, 01 cây kiếm bằng kim loại dài 68cm, 01 con dao chặt thịt cán gỗ dài 55cm, 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 46cm, 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 49cm, 01 cây rìu cán gỗ đầu kim loại dài khoảng 36cm, 01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 27cm, 01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 31cm, 01 con dao cán gỗ lƣỡi kim loại dài khoảng 31cm, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

6 Về trách nhiệm dân sự:

Đối với thƣơng tích của anh Nguyễn Ghi Ta N do Nguyễn Công N gây nên. Tuy nhiên, ngày 09/5/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi gây thƣơng tích của Nguyễn Công N xử lý sau khi có kết quả giám định tâm thần. Ngày 30/8/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra có quyết định số 05/QĐ- ĐTTH đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Công N. Do đó, yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại của bị hại Nguyễn Ghi Ta N, Toà án không xem xét trong vụ án này.

Bị hại Lê Xuân Qu yêu cầu Nguyễn Văn M và Nguyễn Công N liên đới bồi thƣờng 440.213.000đ gồm: Chi phí khám chữa bệnh 4.213.000đ, tiền xe đi lại là 3.000.000đ, tiền ăn trong quá trình điều trị 9.000.000đ, chi phí mất thu nhập của 60 ngày là 24.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần 400.000.000đ. Xét thấy, thƣơng tích của bị hại Qu cho bị cáo Nguyễn Văn M gây nên, do đó Toà án sẽ buộc bị cáo M phải có trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại Qu. Đối với tiền điều trị thƣơng tích, tiền xe đi lại, tiền ăn và tiền mất thu nhập của bị hại, tại phiên toà bị cáo đồng ý trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với tiền tổn thất tinh thần căn cứ vào mức độ thƣơng tích, sự ảnh hƣởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân… thì thấy chấp nhận buộc bị cáo bồi thƣờng cho bị hại số tiền bằng 20 tháng lƣơng cơ sở (1.490.000đ x 20 = 29.800.000đ). Tổng số tiền bị cáo phải bồi thƣờng cho bị hại là 70.013.000đ. Gia đình bị cáo đã nộp 50.000.000đ bồi thƣờng cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An nên khấu trừ số tiền đã nộp, bị cáo còn phải bồi thƣờng 20.013.000đ (hai mƣơi triệu không trăm mƣời ba đồng).

[7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, ấn phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 cây kiếm bằng kim loại lƣỡi cong dài 70cm, 01 cây kiếm bằng kim loại dài 68cm, 01 con dao chặt thịt cán gỗ dài 55cm, 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 46cm, 01 con dao phay bằng kim loại dài khoảng 49cm, 01 cây rìu cán gỗ đầu kim loại dài khoảng 36cm, 01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 27cm, 01 con dao thái thịt bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 31cm, 01 con dao cán gỗ lƣỡi kim loại dài khoảng 31cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An ngày 30/8/2022).

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M bồi thƣờng cho bị hại Lê Xuân Qu số tiền 70.013.000đ. Bị cáo đã đóng 50.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0002272 ngày 29/9/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, nên bị cáo còn phải bồi thƣờng 20.013.000đ (hai mƣơi triệu không trăm mƣời ba đồng).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ