vanban.org

Bản án 319/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Danh Thành N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Danh Thành N mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 12/11/2022) và tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2022/HS-ST
Ngày: 29/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu In

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Hoài Khanh;

Bà Chung Kim Sang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vẹn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 173/2021/TLST-HS, ngày 08 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2022/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Danh Thành N, sinh ngày 18/10/2004, tại R, Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: số 30/7/25, đường T, phường T1, thành phố R, Kiên Giang; chỗ ở: số 25/3, đường C, phường T1, thành phố R, Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh V, sinh năm 1976 và bà Võ Minh H, sinh năm 1984; anh, em ruột có 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 30/01/2021, thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản. Đến ngày 01/4/2021, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 56 ngày 01/4/2021, nhưng bị cáo bỏ trốn và bị truy nã. Đến ngày 12/11/2022 ra đầu thú và bị tạm giữ. Ngày 15/11/2022 bị tạm giam theo Quyết định bắt, tạm giam số 03/2022/HSST-QĐBTG, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Rạch Giá.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người giám hộ của bị cáo Danh Thành N:

- Ông Danh V, sinh năm 1976 (cha của bị cáo) (có mặt);

- Bà Võ Minh H, sinh năm 1984 (mẹ của bị cáo) (vắng mặt);

Địa chỉ: số 25/3, đường C, phường T1, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

* Người bào chữa cho bị cáo Danh Thanh N: Bà Trần Thị D, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kiên Giang (có mặt).

* Bị hại: Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

* Người làm chứng:

- Nguyễn Công T1, sinh năm 2006 (vắng mặt);

Địa chỉ: số 29/7, đường Đ, phường Q, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Danh V, sinh năm 1976 (có mặt);

Địa chỉ: số 25/3, đường C, phường T1, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

* Người chứng kiến:

- Lâm Văn Q, sinh năm 1954 (vắng mặt);

Địa chỉ: số 32, đường B, phường Q, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Trần Thanh T, sinh năm 2004 (vắng mặt);

Địa chỉ: Nhà trọ 65, đường K, phường T1, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 30/01/2021, Danh Thành N đang ở cùng cha ruột tại số 25/3 C, phường T1, thành phố R thì T1 (chưa rõ tên thật, địa chỉ) và Nguyễn Công T (sinh ngày 05/4/2006) đến rủ N cùng đi tìm tài sản trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, thì N đồng ý. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô, loại xe Wave, màu xanh, biển kiểm soát 68T1

- 1379 (không rõ nguồn gốc) của T, chở N và Thiện đi qua nhiều tuyến đường trên địa bàn thành phố Rạch Giá để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, khi cả ba đi đến trước nhà số 94A đường H, phường Q, thì Thiện phát hiện có một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha biển kiểm soát 68B1 - 166.21 của anh Nguyễn Thành C đang đậu dưới lề đường và trên còn sẵn chìa khóa. Lúc này, T1 và N đậu xe gần đó cảnh giới, còn T đi đến khởi động xe 68B1 - 166.21 của anh C rồi cả ba nhanh chóng tẩu thoát. Đến khu vực trước cổng sau của trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi thuộc phường Vĩnh Quang thì T đưa xe mô tô biển kiểm soát 68B1 - 166.21 vừa lấy trộm được cho N và T1 để tìm nơi để cất giấu, còn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68T1 - 1379 về gửi tại phòng trọ của bạn là Trần Thanh T, ở số 65 K, phường T1, thành phố R rồi bỏ đi. Lúc này, T1 và N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68B1 - 166.21 đến đường B, phường Q, thành phố R thì bị hỏng bánh xe nên đã gửi tại tiệm sửa xe của anh Lâm Văn Q, ở số 32 B để sửa rồi cả hai thuê xe ôm về nhà lấy tiền trả tiền sửa xe. Sau đó, T1 với N bị Công an phường Vĩnh Quang phát hiện mời làm việc, và cả hai thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngày 01/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Danh Thành N để điều tra. (Bút lục số: 73-83, 93-97)

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Danh Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave an pha, màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 68B1 - 166.21, số máy HC12E5430578, số khung RLHHC1217DY430833, đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh, biển kiểm soát 68T1

- 1379, đã qua sử dụng. (Bút lục số: 18)

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐG ngày 22/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số máy: HC12E5430578, số khung: RLHHC1217DY430833, loại Wave Alpha, màu đỏ - bạc, biển số kiểm soát: 68B1-166.21, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá 30/01/2021 có giá trị là 8.333.000 đồng/chiếc (tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng). (Bút lục số 42 43).

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- 01 (một) xe mô tô 68B1 - 166.21 (loại xe Wave Alpha) đã qua sử dụng, còn hoạt động và không bị hư hỏng gì. Hiện Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Thành C.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô 68T1 - 1379 (loại xe Wave) màu xanh, đã qua sử dụng (xe không rõ nguồn gốc).

Theo lệnh nhập kho vật chứng số 78, ngày 25/5/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá. (Bút lục số 68, 70).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản nêu trên.

Về phần dân sự: Người bị hại Nguyễn Thành C đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 136/CT-VKSRG, ngày 08 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh Thành N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Danh Thành N mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thành C đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Đối với Nguyễn Công T1, sinh ngày 05/4/2006 có hành vi trộm cắp tài sản nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội Toàn chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính. Đối với người tên T (chưa rõ tên thật và địa chỉ) đã tham gia trộm cùng với T1 và N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị D - là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Danh Thành N: Thống nhất với tội danh, điều khoản truy tố theo bản Cáo trạng và đề nghị luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Danh Thành N có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn, bị cáo là người dân tộc nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Đièu 101 Bộ luật Hình sự. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Danh Thành N được hưởng mức án là 06 (sáu) tháng tù để bị cáo có cơ hội sớm về với gia đình, tái hoà nhập cộng đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bảng Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 30/01/2021, tại trước số nhà 94A, đường H, phường Q, thành phố R, Danh Thành N cùng Nguyễn Công T1 và T (chưa rõ tên thật, địa chỉ) đã cùng nhau lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 68B1 - 166.21 (giá trị qua định giá là 8.333.000) của anh Nguyễn Thành C.

Ngày 01/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Danh Thành N để điều tra.

Hành vi của bị cáo Danh Thành N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhưng bản thân của bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, vì mục đích vụ lợi muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người bị hại và làm mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử các bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Danh Thành N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Theo bản luận tội mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thành C đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô 68T1 - 1379 (loại xe Wave) màu xanh, đã qua sử dụng (xe không rõ nguồn gốc).

Theo quyết định chuyển vật chứng số 101, ngày 08/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Công T1, sinh ngày 05/4/2006 có hành vi trộm cắp tài sản nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội Toàn chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính. Đối với người tên T (chưa rõ tên thật và địa chỉ) đã tham gia trộm cùng với T1 và N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Danh Thành N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Danh Thành N mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 12/11/2022) và tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thành C đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô 68T1 - 1379 (loại xe Wave) màu xanh, đã qua sử dụng (xe không rõ nguồn gốc).

Theo quyết định chuyển vật chứng số 101, ngày 08/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Về án phí: Buộc bị cáo Danh Thành N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/11/2022). Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ