vanban.org

Bản án 319/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 21/10/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/10/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi giữa Lê Thị S và Hồ Thanh T, Nguyễn Thị Thanh T1"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2020/DS-PT
Ngày 21/10/2020
V/v Tranh chấp Hợp đồng vay
tài sản và hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Ngu n Ng c Th ng

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Tấn Lợi

Bà Ngu n Huỳnh Thị Hương Thủ

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Ngu ệt Quỳnh Nhi – Thư Tòa án nhân dân tỉnh ồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: ng Ngu n Văn Tón - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 14, 21 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh ồng Tháp xét xử phúc thẩm c ng hai vụ án thụ l số: 345/2020/TLPT-DS ngày 27 tháng 8 năm 2020, về việc “Tranh chấp Hợp đồng va tài sản và hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2020/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố S bị háng cáo;

Theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 340/2020/Q -PT ngày 15 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị S, sinh năm 1974;

ịa chỉ: ấp , xã T, thành phố S, tỉnh ồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Lê Thị Vân L, sinh năm 1965;

ịa chỉ: ấp Ph, xã T, thành phố S, tỉnh ồng Tháp (Văn bản ủ qu ền ngày 28/7/2020).

- Bị đơn: 1. Anh Hồ Thanh T, sinh năm 1970;

2. Chị Ngu n Thị Thanh T1, sinh năm 1974;

Cùng địa chỉ: ấp Khánh Ng, xã T, thành phố S, tỉnh ồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T, chị T1: Luật sư Thái Quang Tr – Văn phòng luật sư C, oàn luật sư tỉnh ồng Tháp.

- Người kháng cáo: Hồ Thanh T và Ngu n Thị Thanh T1.

(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Lê Thị S ủy quyền cho chị Lê Thị Vân L trình bày:

Do quen biết nên chị S có cho vợ chồng anh T, chị T1 vay tiền và tham gia hụi do chị S làm chủ, cụ thể như sau:

Về chơi hụi: anh T có tham gia 2 dâ hụi:

+ Dâ hụi tháng 3.000.000đ hui ngà mùng 10/11/2016 al, gồm 21 hụi viên, anh T tham gia 1 phần, ghi tên “T” trong danh sách hụi viên và hốt hụi vào ngà mở hụi ỳ đầu tiên được số tiền 47.000.000đ. Chị S đã giao đủ tiền cho anh T nhận và tên vào giấ nhận hụi. Sau hi hốt hụi anh T đóng hụi chết được 15 lần thì ngưng, còn nợ 5 lần hụi chết số tiền 15.000.000đ (chị S là chủ hụi đã đóng choàng xong). Như vậ , dâ hụi 3.000.000đ anh T, chị T1 nợ hụi chết chị S là 15.000.000đ.

+ Dâ hụi tháng 2.000.000đ hui ngà 15/01/2017 al, gồm 22 hụi viên, anh T tham gia 1 phần ghi tên “T” trong danh sách hụi viên và hốt hụi vào ngà mở hụi ỳ đầu tiên được số tiền 34.000.000đ. Chị S đã giao đủ tiền cho anh T nhận và

tên vào giấ nhận hụi. Sau hi hốt hụi anh T phải đóng hụi chết đến hi mãn hụi là ngày 15/10/2018 al số tiền tổng cộng là 42.000.000đ. Tuy nhiên, anh T chỉ đóng cho chị S được số tiền 25.000.000đ (đóng nhiều lần), sau đó ngưng h ng đóng nữa, còn nợ 17.000.000đ (chị S là chủ hụi đã đóng choàng xong). Như vậ dâ hụi 2.000.000đ anh T, chị T1 nợ hụi chết chị S là 17.000.000đ. Do anh T, chị T1 chỉ thừa nhận nợ 10.000.000đ nên chị S cũng đồng .

Về tiền, vàng anh T, chị T1 vay: Ngà 27/12/2017 al (nhằm ngà

12/02/2018 dl) chị S có cho anh T, chị T1 va số tiền 270.000.000đ và 04 chỉ vàng 24 , lãi suất tiền là 3%/tháng, vàng h ng tính lãi, h ng thỏa thuận thời hạn trả, có làm biên nhận do anh T viết và tên. Khoảng 1 tháng sau, chị S có cho chị T1 va tiếp số tiền 50.000.000đ, lãi suất 3%/tháng, h ng thỏa thuận thời hạn, h ng có làm biên nhận. ến ngà 16/11/2018 al (nhằm ngà 22/12/2018 dl) chị S có êu cầu chị T1 biên nhận nợ số tiền 50.000.000đ. Mục đích va tiền anh T, chị T1 làm vốn mua bán. Từ lúc va đến na anh T, chị T1 h ng đóng lãi và cũng chưa trả vốn cho chị S.

Na chị Lê Thị S êu cầu anh Hồ Thanh T và chị Ngu n Thị Thanh T1 liên đới trả nợ va và hụi gồm các hoản:

Tiền vốn va 270.000.000đ và tiền lãi tính từ ngà 12/02/2018 đến 12/12/2019 là 22 tháng x 0,83%/tháng = 49.302.000đ.

Tiền vốn va 50.000.000đ và tiền lãi tính từ ngà 22/12/2018 đến 12/12/2019 là 11 tháng 20 ngà x 0,83%/tháng = 4.841.000đ.

Tổng cộng vốn, lãi = 374.143.000đ, cộng tiền hụi của dâ hụi 2.000.000đ ngày 15/01/2017 al là 10.000.000đ. Tổng cộng tiền va và tiền hụi là 384.143.000đ và 04 chỉ vàng 24 .

ối với số tiền 15.000.000đ nợ hụi chết của dâ hụi 3 triệu ngày 10/11/2016 chị S h ng êu cầu.

* Bị đơn anh Hồ Thanh T và chị Nguyễn Thị Thanh T1 cùng trình bày:

Anh T và chị T1 là vợ chồng, chung sống trên 20 năm, có đăng

ết h n. Anh T, chị T1 với chị S xem nhau như người trong gia đình vì em chị S làm việc cho anh T. Tháng 7/2011 anh, chị có va của chị S số tiền 20.000.000đ, lãi suất 10%/tháng (mỗi tháng đóng lãi 2.000.000đ), h ng có làm biên nhận. Anh, chị đóng lãi đến tháng 8/2015 là 49 tháng x 2.000.000đ = 98.000.000đ.

Từ tháng 8/2015 đến tháng 12/2015 có nợ lại 4 tháng lãi là 8.000.000đ. Sau đó, chị S có cho va thêm số tiền vốn 7.000.000đ. Như vậ , trước sau số tiền nợ chị S là 20 triệu + 8 triệu + 7 triệu = 35.000.000đ, chị S tính lãi 10%/tháng (mỗi tháng đóng lãi 3.500.000đ), đóng được 18 tháng x 3.500.000đ = 63.000.000đ. Còn nợ lại 6 tháng tiền lãi x 3.500.000đ = 21.000.000đ.

Do đó, đầu tháng 10/2016 al anh, chị có tham gia dâ hụi 3 triệu, danh sách hụi có 18 hụi viên do chị S làm chủ để trả nợ lãi cho chị S. Ngày 10/10/2016 al hui hụi anh, chị bỏ hụi 400.000đ, hốt được 43.000.000đ nhưng chị S không giao tiền mà cấn trừ vào nợ va (gốc và lãi) nhưng h ng nói rõ thiếu ha đủ. Sau đó anh chị có đóng hụi chết cho chị S 15 lần, còn nợ 2 lần hụi chết số tiền 6.000.000đ.

ến tháng 15/01/2017 al anh, chị tham gia thêm dâ hụi 2 triệu do chị S làm chủ, danh sách có 21 hụi viên, anh chị hốt đầu được số tiền 34.000.000đ nhưng chị S cũng h ng giao tiền mà nói trừ vào vốn, lãi va và cũng h ng nói đủ ha thiếu. Anh chị sau đó có đóng hụi chết 15 lần, còn nợ 5 lần hụi chết số tiền 10.000.000đ. Tổng cộng 2 dâ hụi anh chị hốt được số tiền 77.000.000đ nhưng trên thực tế chị S không có giao tiền. Anh T h ng thừa nhận chữ trong hai hợp đồng hụi do anh T ký.

Về biên nhận va số tiền 270.000.000đ và 4 chỉ vàng 24k anh T thừa nhận do anh T viết và tên nhưng thực tế h ng có va 270.000.000đ và 4 chỉ vàng 24k của chị S mà do chị S nhờ anh T viết dùm để nói chu ện với người em chồng của chị S ở nước ngoài về. Do tin tưởng nên anh T viết chứ h ng bị ép buộc, anh T h ng có nhận tiền, vàng của chị S.

Về biên nhận 50.000.000đ chị T1 thừa nhận có tự điền tên h vào và tên vào biên nhận do chị S đưa, nhưng số tiền va h ng phải 50.000.000đ, chị T1 chỉ va của chị S số tiền 3.000.000đ, thời gian h ng nhớ, và số tiền lãi 2.000.000đ, tổng cộng 5.000.000đ, nhưng hi chị S đưa biên nhận chị T1 tên do thời điểm tiệm rửa xe đ ng hách nên chị T1 mà h ng có iểm tra số tiền ghi trong biên nhận là 50.000.000đ. Thực tế chị T1 chỉ có nợ số tiền 5.000.000đ của chị S.

Anh T, chị T1 trình bà đã đóng lãi với lãi suất cao cho chị S, tuy nhiên h ng có êu cầu cấn trừ vì các lần đóng lãi từ năm 2011 h ng có làm biên nhận nên không có gì chứng minh.

Nay anh, chị h ng đồng theo êu cầu hởi iện của chị S. Trường hợp trong vụ án có phát sinh nghĩa vụ thì anh, chị thống nhất là nghĩa vụ chung của vợ chồng.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2020/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố S đã xử:

1. Chấp nhận êu cầu hởi iện của chị Lê Thị S.

Buộc anh Hồ Thanh T và chị Ngu n Thị Thanh T1 liên đới trả cho chị Lê Thị S tiền vốn va 320.000.000đ, tiền lãi 54.143.000đ. Tổng cộng vốn, lãi 374.143.000đ; Tiền hụi 10.000.000đ và 04 chỉ vàng 24 . Tổng cộng các hoản 384.143.000đ và 04 chỉ vàng 24 .

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong. Đối với số vàng không tính lãi chậm trả.

Về án phí dân sự sơ thẩm: anh T, chị T1 liên đới nộp 20.133.000đ án phí DSST.

Hoàn trả cho chị Lê Thị S nhận lại số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0004448 ngà 16/01/2020 của Chi cục Thi hành án thành phố S.

- Ngày 18/7/2020 anh T và chị T1 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 16/2020/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố S.

- Luật sư Thái Quang Tr phát biểu:

+ Vào ngà làm biên nhận anh T h ng có nhận tiền và vàng. Anh T cho rằng viết biên nhận giùm để chị S đối phó với người hác.

+ Nếu chị S khai anh T mượn tiền nhiều lần tổng cộng 270.000.000đ và 04 chỉ vàng 24 , vậ mượn tiền th i chứ mượn vàng làm gì.

+ Kh ng có thỏa thuận lãi nên Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi từ ngà viết biên nhận là h ng phù hợp. ề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

+ Phần nợ 50.000.00đ chị T1 hai vào ngà

biên nhận cũng h ng có nhận tiền.

+ Nghĩa vụ chứng minh là của ngu ên đơn, là giao tiền, vàng vào ngà

nào?

ề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận háng cáo của anh T và chị T1, sửa bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm anh T và chị T1 phát biểu: Giữ ngu ên háng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm chị L phát biểu: Bác háng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ ngu ên bản án sơ thẩm.

- ại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh ồng Tháp phát biểu: Từ hi thụ l vụ án và quá trình giải qu ết vụ án Thẩm phán thụ l giải qu ết vụ án đúng các qu định pháp luật. Quá trình giải qu ết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo qu định pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt nội qu phiên tòa. Về đường lối xét xử, Viện iểm sát đề nghị chấp nhận một phần háng cáo của anh T, chị T1, sửa bản án sơ thẩm phần lãi suất.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện iểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng va tài sản và tranh chấp hụi là đúng pháp luật.

[2] Xét háng cáo của anh T, chị T1, Hội đồng xét xử xét thấ :

[2.1] Về êu cầu trả tiền nợ hụi:

Chị S êu cầu anh T và chị T1 trả 34.000.000đ. Tuy nhiên anh T chỉ thừa nhận nợ hụi 05 chân hụi 2.000.000đ là 10.000.000đ, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, buộc anh T, chị T1 trả số tiền nợ hụi 10.000.000đ là phù hợp.

ối với số tiền 15.000.000đ nợ hụi chết của dâ hụi 3 triệu ngày 10/11/2016 ngu ên đơn h ng êu cầu nên h ng xem xét là phù hợp.

[2.2] Về tiền va , Hội đồng xét xử xét thấ :

Chị S trình bày là anh T, chị T1 va tiền nhiều lần rồi tổng ết nợ bằng 02 biên nhận va tiền ngà 27/12/2017 số tiền 270.000.000đ và 4 chỉ vàng 24 và biên nhận ngà 16/11/2018 al (nhằm ngà 22/12/2018 dl) số tiền 50.000.000đ.

Biên nhận ngà 27/12/2017 có nội dung: “…Tôi tên Hồ Thanh T, số nhà 216 Khánh Ng, xã T, TP S có nhờ chị Lê Thị S mượn dùm 270.000.000đ và 04 chỉ vàng 24k”. Anh T thừa nhận toàn bộ nội dung biên nhận và tên trong biên nhận là do anh T tự viết và tên nhưng anh T cho rằng do chị S nhờ viết dùm, thực tế h ng va tiền, vàng của chị S. Trong quá trình giải qu ết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm anh T h ng xuất trình được chứng cứ chứng minh cho iến trình bà của anh T. Cho nên h ng chấp nhận lời hai nại của anh T.

ối với biên nhận ngà 16/11/2018 al có nội dung: “…Tôi tên Nguyễn Thị Thanh T1, số nhà 216 Khánh Ng, xã T, TP S có nhờ chị Lê Thị S mượn dùm 50.000.000đ”, chị T1 thừa nhận tự điền h tên vào biên nhận do chị S viết sẵn và tên nhưng cho rằng chỉ có nợ 5.000.000đ. Tu nhiên lời hai nại của chị T1 h ng có cơ sở gì để chứng minh.

[2.3] ối với việc ngu ên đơn êu cầu tính lãi tiền va , Hội đồng xét xử xét thấ :

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận phần lãi vay với lãi suất 0,83%/tháng, tính từ ngà viết biên nhận đến ngà hởi iện, số tiền lãi tổng cộng là 54.143.000đ là chưa phù hợp với qu định của pháp luật. Bởi vì cả 02 biên nhận ngà 27/12/2017 và ngà 16/11/2018 h ng ghi lãi và h ng có thỏa thuận lãi suất. Cho nên thời điểm tính lãi phải tính từ ngà phát sinh tranh chấp là ngày ngu ên đơn nộp đơn hởi iện ngà 19/12/2019. Nên điều chỉnh lại phần lãi là tính lãi từ ngà 19/12/2019 đến ngà xét xử. Cụ thể như sau:

320.000.000đ x 0,83%/tháng x 10 tháng 02 ngà = 26.737.000đ.

Do đó, chấp nhận một phần êu cầu háng cáo của anh T, chị T1. Sửa bản án sơ thẩm phần lãi suất.

Anh T và chị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ hoản 2 iều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Chấp nhận một phần háng cáo của anh Hồ Thanh T và chị Ngu n Thị Thanh T1.

- Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Áp dụng iều 463, Khoản 1 iều 466, iều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 iều 147, hoản 2 iều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị qu ết số: 326/2016/UBTVQH14, ngà 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội, về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần êu cầu hởi iện của ngu ên đơn chị Lê Thị S.

2. Buộc anh Hồ Thanh T và chị Ngu n Thị Thanh T1 liên đới trả cho chị Lê Thị S nợ vốn va 320.000.000đ và 04 chỉ vàng 24 , tiền lãi 26.737.000đ. Tổng cộng anh T và chị T1 liên đới trả cho chị S nợ vốn, lãi vay 346.737.000đ và 04 chỉ vàng 24 .

Buộc anh Hồ Thanh T và chị Ngu n Thị Thanh T1 liên đới trả cho chị Lê Thị S tiền nợ hụi 10.000.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong. Đối với số vàng không tính lãi chậm trả.

3. Về án phí:

Anh Hồ Thanh T, chị Ngu n Thị Thanh T1 liên đới nộp 18.336.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Lê Thị S nộp 1.388.500đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 10.442.000đ theo biên lai số 0004448 ngà 16/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S. Chị S được nhận lại 9.053.500đ.

Anh Hồ Thanh T, chị Ngu n Thị Thanh T1 h ng phải nộp án phí dân sự phúc thẩm nên được nhận lại 600.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001224 và biên lai số 0001225 ngà 27/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm h ng có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngà hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Trong trường hợp bản án, qu ết định được thi hành theo qu định tại iều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các iều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qu định tại iều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngà tu ên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ