vanban.org

Bản án 318/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 17/08/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Không chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của bà Ngô Thị Th (Hằng); Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà Ngô Thị S trả lại quyền sử dụng đất của thửa đất số 30 (thửa cũ 623), tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm; thửa 28, tờ bản đồ số 58 (thửa cũ 624) diện tích 985m2 loại đất trồng cây… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 318/2020/DS-PT Tuyên án 17/08/2020
Phúc thẩm Bản án 72/2024/DS-PT Tuyên án 04/03/2024
Giám đốc thẩm Bản án 43/2023/DS-GĐT Tuyên án 27/09/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Bà Ngô Thị Th kiện bà Ngô T S"
  • Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của bà Ngô Thị Th (Hằng); Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2020/DS-PT
Ngày 17/8/2020
V/v “T/C hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất, hủy giấy chứng nhận
QSDĐ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Đặng Văn Ý

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Công

Ông Đặng Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngát - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2020/DS-PT ngày 03/02/2020, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 55/2019/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1962/2020/QĐPT, ngày 20 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Th (Hằng), sinh năm 1952 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Th: Ông Võ Huy B, sinh năm 1987 (có mặt). Bà Võ Thị Tuyết H, sinh năm 1989 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Th: Luật sư Nguyễn Trường Thành, thuộc Văn phòng luật sư Vạn Lý, đoàn luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Ngô Thị S, sinh năm 1958 (có mặt).

Địa chỉ: Số 67, khóm 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Địa chỉ liên hệ: Cây xăng T - Quốc lộ 53, tổ 8, ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Ngô Thị N, sinh năm 1955 (có mặt). Địa chỉ: Số 88, ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

3.2. Ông Ngô Văn T, sinh năm 1968 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

3.3. Ông Phạm Vũ S, sinh năm 1952 (có mặt). Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn V,

huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

3.4. Ông Trần Văn H, sinh năm 1957 (có mặt).

3.5. Chị Trần Thụy Thùy Tr, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của chị Trang: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1955 (có mặt). Cùng địa chỉ: Số 88, ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

3.6. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

3.7. Bà Ngô Thị Hoàng Đ, sinh năm 1980 (vắng mặt). Địa chỉ: Số 49, khu phố 3, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bà Ngô Thị Th.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/3/2016 và các lời khai khác trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Ngô Thị Th có chị Võ Thị Tuyết H và anh Võ Huy B làm đại diện trình bày:

Nguyên gia đình bà Th có phần đất hương quả tại ấp R, thị trấn Vũng Liêm, do cha bà là ông Ngô Văn Thế sở hữu. Năm 1980 đo đạc theo chỉ thị 299/TTg cho bà đăng ký ở thửa số 509, diện tích 9000m2 loại đất trồng lúa. Năm 1991 thực hiện theo đo đạc chương trình đất cho bà kê khai đăng ký ở thửa đất số 623, diện tích 1.160m2 loại đất thổ màu, thửa số 624 diện tích 1.693m2 loại đất trồng lúa. Năm 2000 đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm này cha bà qua đời, bà là người thừa kế và đã làm thủ tục sang tên thừa kế xong.

Năm 2001, cháu bà là bà Ngô Thị S và cùng cha của bà S là ông Ngô Văn Diệu có đến gặp bà xin san lấp mặt bằng để kinh doanh cây xăng tại thửa số 623, bà đồng ý, bà buộc cháu bà là bà S làm cam kết ngày 01/3/2001 có chứng thực của UBND thị trấn V.

Năm 2003 bà Ngô Thị N là chị ruột của bà S ở đậu tại thửa đất 623, đến năm 2010 giữa bà N và bà S có xảy ra tranh chấp, bà S buộc bà N phải trả tiền thuê đất đối với phần đất bà N đang sử dụng. Lúc này bà Th mới biết cháu bà là bà Ngô Thị S đã làm thủ tục và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 30 (thửa cũ 623) diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 28 ( thửa cũ 624) diện tích 985m2, loại đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 42 ( tách từ thửa cũ 28) diện tích 708m2, loại đất sản xuất kinh doanh, cả 03 thửa đất cùng thuộc tờ bản đồ số 58, tọa lạc tại ấp R, thị trấn Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 08/7/2010 bà Th có làm đơn khiếu nại yêu cầu xem xét thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị S tại thửa đất số 30, 28 và thửa số 42. Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm giải quyết bằng quyết định số 5240/QĐ-UBND ngày 20/8/2013 thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 30, diện tích 1.176,6m2 loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm cấp ngày 16/6/2004 cho bà Ngô Thị S. Lý do trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Ngô Thị S trái quy định của pháp luật.

Nay bà yêu cầu buộc bà Ngô Thị S trả lại quyền sử dụng đất của thửa đất số 30 (thửa cũ 623) diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, thửa 28 (thửa cũ 624) diện tích 985m2 loại đất trồng cây lâu năm và thửa 42 tách từ thửa cũ 28) diện tích 708m2 loại đất sản xuất kinh doanh và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 28 (thửa cũ 624) diện tích 985m2 loại đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 42 (tách từ thửa cũ 28) diện tích 708m2 loại đất sản xuất kinh doanh, cả 03 thửa đất cùng tọa lạc tại ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Về tài sản trên đất bà Th không bồi thường cho bà Ngô Thị S.

- Trong quá trình tố tụng bị đơn Ngô Thị S trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp của ông Ngô Văn Thế; bà Ngô Thị Th đã tặng cho bà có hợp đồng cho đất. Bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hơn 18 năm nay từ đó bà cải tạo mặt bằng từ đất ruộng để san lấp mặt bằng với chi phí 300 cây vàng và 200.000.000 đồng từ nguồn tiền bán nhà ở phường 9 để xây dựng cây xăng. Trên đất có văn phòng để làm việc và nhà bếp để sinh hoạt. Sau khi tranh chấp thì Ủy ban nhân dân huyện có ra quyết định số 5420/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ của bà S tại thửa 30, diện tích 1.176,6m2. Lý do trình tự thủ tục cấp giấy sai quy định của pháp luật nên bà S liên hệ để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Th, bà S không đồng ý vì bà Th đã tặng cho bà và bà đã đầu tư trên đất rất lớn, không đồng ý hủy giấy chứng nhận. Việc bà Th cho rằng bà Th ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và lừa em bà Th là bà Hằng ký vào văn bản từ chối nhận thừa kế là không đúng sự thật.

Việc bà Ngô Thị N về cất nhà thì bà không có cho cất nhà chỉ cho ở tạm. Bà không đồng ý tiếp tục cho bà N ở trên phần đất thửa số 30. Gia đình bà N phải tự dọn đi nơi khác bà không hỗ trợ chi phí di dời là 20.000.000 đồng và không bồi hoàn công trình, vật kiến trúc. Hiện nay phần đất này do bà và chồng là ông Phạm Vũ S đang quản lý sử dụng.

- Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 13/6/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị N và ông Trần Văn H trình bày: Gia đình bà N đã về sinh sống trên phần đất thửa số 30, diện tích 1.176,6m2 từ năm 2003 cho đến nay. Bà N đã cất nhà cấp 4, nền gạch men, mái tole, vách tường trên phần đất này ngang 12m, dài 09m, diện tích 108m2, giá trị căn nhà khi cất là 500.000.000đ. Ngoài ra còn có 01 nhà tiền chế vách tường lửng 5m + tole, mái tole, nền láng xi măng, ngang 12m, dài 10m, diện tích 120m2, giá trị khi cất là 200.000.000 đồng, hàng rào cặp ranh dài 42m bằng lưới B40 giá trị là 50.000.000 đồng, tiền san lắp mặt bằng từ nhà ra tới quốc lộ 53 là 150.000.000 đồng. Nhà này do bà và ông Trần Văn H, sinh năm 1957 là chồng bà đang quản lý sử dụng. Trước khi cất nhà thì bà có hỏi bà S, bà S kêu bà về cất nhà thì hỏi bà Th, bà Th đồng ý, bà S cũng đồng ý cho cất nhà. Khi bà cất nhà thì không có ai ngăn cản.

Bà N đồng ý kết quả đo đạc của huyện không yêu cầu đo đạc và định giá lại. Yêu cầu bị đơn bà Ngô Thị S phải bồi hoàn toàn bộ giá trị công trình vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp và phí di dời cho vợ chồng ông bà với tổng cộng là 500.000.000 đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T trình bày: Hiện nay ông đang ở tạm trên phần đất thửa số 30 không có tài sản trên thửa đất này. Ông chỉ là em ruột của bà Ngô Thị S và được bà Ngô Thị S cho ở tạm nên trong vụ kiện này không có ý kiến hay yêu cầu gì.

- Tại bản khai ý kiến ngày 11/11/2019 của chị Ngô Thị Hoàng Đ trình bày: Chị là con của ông Ngô Cảnh Thăng ( sinh năm 1951, chết năm 1984) là cháu nội của ông Ngô Văn Thế ( sinh năm 1904, chết năm 1995). Ông nội chị có 03 người con là Ngô Cảnh Thăng, Ngô Thị Th, Ngô Thị Hằng. Ông nội chết đã để lại những tài sản gì chị hoàn toàn không biết, cũng không biết những đất đai mà ông nội để lại là bao nhiêu và ở những vị trí nào. Ngày 07/11/2019 chị mới biết về sự việc phần đất tranh chấp giữa bà Ngô Thị Th với bà Ngô Thị S có nguồn gốc là của ông nội chị để lại. Theo quy định của pháp luật thì chị là người thừa kế thế vị của ông Ngô Cảnh Thăng. Do đó những người thừa kế theo quy định của pháp luật đối với tài sản của ông Ngô Văn Thế là Ngô Thị Hoàng Đ, Ngô Thị Th, Ngô Thị Hằng. Tuy nhiên ngày 26/02/2001 bà Ngô Thị Th đã tự ý đi kê khai thừa kế quyền sử dụng đất đối với phần đất này và tự chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị S mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế của ông Ngô Văn Thế. Đối với việc tranh chấp giữa bà Ngô Thị Th với bà Ngô Thị S, ý kiến của chị là đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long căn cứ vào các quy định của pháp luật khi xem xét giải quyết vụ án trên, để có phán quyết theo đúng quy định của pháp luật mà không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp đã được pháp luật quy định và bảo vệ đối với các đồng thừa kế của ông Ngô Văn Thế. Chị xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Tại Bản án dân sự số 55/2019/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định:

Căn cứ Điều 688, 722, 723, 724, 725, 726 của Bộ Luật dân sự 2005 và Điều 50 luật đất đai năm 2003, Điều 26, khoản 3 Điều 35, Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà Ngô Thị S trả lại quyền sử dụng đất của thửa đất số 30 (thửa cũ 623), tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, thửa 28, tờ bản đồ số 58 (thửa cũ 624) diện tích 985m2 loại đất trồng cây lâu năm và thửa 42, tờ bản đồ số 58 (tách từ thửa cũ 28) diện tích 708m2 loại đất sản xuất kinh doanh và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 30 (thửa cũ 623), tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, thửa 28, tờ bản đồ số 58 (thửa cũ 624) diện tích 985m2 loại đất trồng cây lâu năm và thửa 42, tờ bản đồ số 58 (tách từ thửa cũ 28) diện tích 708m2 loại đất sản xuất kinh doanh, cả 03 thửa đất cùng tọa lạc tại ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long và yêu cầu công nhận các thửa đất nêu trên là di sản của ông Ngô Văn Thế chết để lại.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn H và bà Ngô Thị N. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị S, buộc bà Ngô Thị S hoàn trả cho bà N, ông Hai giá trị tài sản trên đất, công trình vật kiến trúc và chi phí di dời với tổng số tiền 500.000.000 đồng. Buộc ông Trần Văn H và bà Ngô Thị N, chị Trần Thụy Thùy Tr di dời vật dụng giao cho bà Ngô Thị S, ông Phạm Vũ S công trình, vật kiến trúc gắn liền với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm cho bà Ngô Thị S và ông Phạm Vũ S.

3. Công nhận cho bà Ngô Thị S được quản lý, sử dụng công trình vật kiến trúc gắn liền với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm cho bà Ngô Thị S và ông Phạm Vũ S.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, đo đạc, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/12/2019 bà Th kháng cáo toàn bộ bản án cho rằng bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; vi phạm quy định của Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật dân sự năm 2005; không đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn nên yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền lợi cho bà Th cho rằng cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp, không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện Vũng Liêm, người thừa kế tài sản vào tham gia tố tụng, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; đề nghị hủy án sơ thẩm giao về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Bà S tham gia tranh tụng cho rằng bà Th là người làm thủ tục thừa kế tài sản, giao toàn bộ diện tích trên để bà S đầu tư mở cây xăng kinh doanh và bà S cũng đã cam kết khi nào không kinh doanh hoặc bán tài sản là cây xăng sẽ giao trả diện tích đất trên cho bà Th. Vì vậy bà Th đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà S, bà S đã đầu tư rất lớn về mặt bằng, chuyển mục đích sử dụng đất và mở cây xăng. Nay bà Th yêu cầu hủy hợp đồng, trả lại đất là không phù hợp, đề nghị bác đơn kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Về thủ tục tố tụng, người tiến hành tố tụng, các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định. Về nội dung vụ án, đối tượng tranh chấp trong vụ án có liên quan đến di sản thừa kế, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Hằng và Diệp vào tham gia tố tụng; đương sự có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà Th, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long giải quyết lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Đơn kháng cáo của bà Ngô Thị Th đúng theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

- Xét đơn kháng cáo của bà Ngô Thị Th yêu cầu hủy bản án sơ thẩm thì thấy:

. Theo đơn khởi kiện ngày 02/3/2016, bà Ngô Thị Th yêu cầu bà Ngô Thị S trả lại đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Ngô Thị S. Tuy nhiên, thực chất đây là vụ kiện: Tranh chấp về hợp đồng tặng cho tài sản, bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là quan hệ dân sự về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là không đúng quan hệ tranh chấp nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng đất giữa hai bên và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, cấp sơ thẩm đã xem xét đúng nội dung hai bên tranh chấp nên không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà chỉ cần sửa lại quan hệ tranh chấp cho đúng về việc: “Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 34, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

. Về nội dung khởi kiện: Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết những nội dung, yêu cầu theo đơn khởi kiện của bà Ngô Thị Th. Trong vụ án này bà Ngô Thị Th không yêu cầu tranh chấp chia di sản thừa kế, tòa án cấp sơ thẩm đã đưa chị Ngô Thị Hoàng Đ là con của ông Ngô Cảnh Thăng tham gia tố tụng, chị Ngô Thị Hoàng Đ cũng không có yêu cầu giải quyết chia di sản thừa kế trong vụ án này và xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Tòa án. Do đó, dành quyền khởi kiện về: “Tranh chấp di sản thừa kế” cho các đương sự khi có yêu cầu để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự theo quy định của pháp luật nên việc người bảo vệ quyền lợi cho bà Ngô Thị Th cho rằng cấp sơ thẩm chưa đưa đầy đủ người thừa kế vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, là chưa đủ căn cứ.

. Về nội dung tranh chấp:

. Theo tài liệu và xác nhận của bà Ngô Thị Th thì ông Ngô Văn Thế là cha của bà Th được sử dụng phần đất hương quả tại ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long diện tích 9.000m2 loại đất trồng lúa (BL: 22). Năm 1995, ông Ngô Văn Thế ủy quyền toàn bộ diện tích đất hương hỏa trên cho bà Ngô Thị Th, không ai được cản trở hay tranh chấp. Văn bản ủy quyền có anh, chị chú bác là ông Ngô Văn Diệu và bà Nguyễn Thị Liên ký xác nhận, được UBND khóm 1 chuyển đến UBND thị trấn xem xét, giải quyết (BL: 20). Sau khi ông Ngô Văn Thế chết, bà Ngô Thị Th quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất trên. Đến năm 2000 bà Ngô Thị Th kê khai đăng ký thửa đất số 623, diện tích 1.160m2 loại đất thổ màu, thửa số 624 diện tích 1.693m2 loại đất trồng lúa. Do đó, nếu các đồng thừa kế có tranh chấp di sản thừa kế với bà Ngô Thị Th thì quyền lợi của các đồng thừa kế không bị ảnh hưởng.

. Theo Giấy cam kết ngày 01/3/2001 của bà Ngô Thị S, đã thể hiện: “Theo giấy ủy quyền tôi được sử dụng thửa đất 623 -1160; 624 -1246 như sau: San lấp mặt bằng làm cây xăng, trong suốt thời gian hoạt động lâu dài, tôi có quyền sử dụng. Nếu sau này tôi có sang nhượng thì phần thửa đất 623 -1160; 624 -1246, tôi sẽ trả lại cho cô tôi là Ngô Thị Th, sinh năm 1952, số CM 330145417 ngụ tại Khóm 1, thị trấn Vũng Liêm” được Ủy ban nhân dân thị trấn Vũng Liêm chứng thực (BL: 14). Cùng ngày 01/3/2001, bà Ngô Thị Th lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa số 623 tờ bản đồ số 002 diện tích 1.176,6m2 loại đất TM và được Ủy ban nhân dân thị trấn Vũng Liêm chứng thực vào ngày 02/3/2001, đến ngày 23/8/2004 bà Ngô Thị S được Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 10/5/2001 bà Ngô Thị Th lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa số 624, diện tích 1.693m2, loại đất hai lúa, đến ngày 04/7/2001 UBND huyện Vũng Liêm ban hành Quyết định số 289/QĐ-UBH về việc công nhận quyền sử dụng đất thửa 624 cho bà Ngô Thị S.

Như vậy, căn cứ vào Giấy cam kết của bà Ngô Thị S và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Th, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Ngô Thị Th cho bà Ngô Thị S, thực chất là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, để bà Ngô Thị S có đất, đầu tư mở cây xăng kinh doanh, khi nào bà Ngô Thị S không còn kinh doanh, chuyển nhượng tài sản, công trình kiến trúc trên đất cho người khác thì trả lại quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị Th là có căn cứ.

. Sau khi được công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 thửa đất trên, bà Ngô Thị S chuyển mục đích sử dụng và tách thửa 624 thành 02 thửa là thửa số 28 có diện tích 985m2 (loại đất trồng cây lâu năm) và thửa 42 có diện tích 708m2 (loại đất sản xuất kinh doanh), được UBND huyện Vũng Liêm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/8/2006. Thửa số 623 nay là thửa đất số 30, diện tích 1.176,6m2 (loại đất ở đô thị) được UBND huyện Vũng Liêm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/8/2004. Bà Ngô Thị S nhận đất từ năm 2001, đã đầu tư cải tạo, san lấp, chuyển mục đích sử dụng đất, xây dựng công trình kiên cố có giá trị trên đất để làm cây xăng và kinh doanh từ năm 2001 cho đến nay là đúng theo thỏa thuận, cam kết giữa hai bên.

. Đến nay, bà Ngô Thị S cũng đang sử dụng các thửa đất trên dùng làm nơi kinh doanh xăng dầu, không có căn cứ thể hiện bà Ngô Thị S tặng cho hay chuyển nhượng cho người khác nên bà Ngô Thị S không vi phạm thỏa thuận, cam kết giữa hai bên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Th về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Ngô Thị S (là một trong những điều kiện cần thiết để được Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh xăng dầu), không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất là có căn cứ. Do không chấp nhận yêu cầu hủy quyết định cá biệt, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND huyện Vũng Liêm vào tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với những nhận định nêu trên nên không được chấp nhận; lời trình bày của người đại diện và người bảo vệ quyền lợi cho bà Ngô Thị Th không có căn cứ nên không được chấp nhận. Do đó, bác đơn kháng cáo của bà Ngô Thị Th; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Ngô Thị Th thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

I. Không chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của bà Ngô Thị Th (Hằng); Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điềm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 470, Điều 722, Điều 723, Điều 724, Điều 725, Điều 726 Bộ Luật dân sự 2005 và Điều 50 Luật đất đai năm 2003. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà Ngô Thị S trả lại quyền sử dụng đất của thửa đất số 30 (thửa cũ 623), tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm; thửa 28, tờ bản đồ số 58 (thửa cũ 624) diện tích 985m2 loại đất trồng cây lâu năm và thửa 42, tờ bản đồ số 58 (tách từ thửa cũ 28) diện tích 708m2 loại đất sản xuất kinh doanh và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 30 (thửa cũ 623), tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm; thửa 28, tờ bản đồ số 58 (thửa cũ 624) diện tích 985m2 loại đất trồng cây lâu năm và thửa 42, tờ bản đồ số 58 (tách từ thửa cũ 28) diện tích 708m2 loại đất sản xuất kinh doanh, cả 03 thửa đất cùng tọa lạc tại ấp R, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn H và bà Ngô Thị N. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị S, buộc bà Ngô Thị S hoàn trả cho bà N, ông Hai giá trị tài sản trên đất, công trình vật kiến trúc và chi phí di dời với tổng số tiền 500.000.000 đồng. Buộc ông Trần Văn H và bà Ngô Thị N, chị Trần Thụy Thùy Tr di dời vật dụng giao cho bà Ngô Thị S, ông Phạm Vũ S công trình, vật kiến trúc gắn liền với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm cho bà Ngô Thị S và ông Phạm Vũ S.

3. Công nhận cho bà Ngô Thị S được quản lý, sử dụng công trình vật kiến trúc gắn liền với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.176,6m2, loại đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm cho bà Ngô Thị S và ông Phạm Vũ S.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Miễn án phí cho bà Ngô Thị Th; hoàn trả cho bà Ngô Thị Th số tiền 13.110.000 đồng theo biên lai thu số 0006217 ngày 07/4/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.

- Miễn án phí cho bà Ngô Thị S.

- Miễn án phí cho bà Ngô Thị N và ông Trần Văn H.

5. Chi phí khảo sát, đo đạc và định giá tài sản: Buộc bà Ngô Thị Th nộp số tiền 6.306.500 đồng đã nộp xong.

II. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị Th (Hằng) được miễn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

III. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ