- Tranh chấp gì? án hình sự — "trần xuân h - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 317/2026/HSST Ngày: 09-7-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai và bà Đào Thị Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm Công khai - Trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 268/2026/TLST-HS ngày 08/6/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2026/QĐXXST-HS ngày 26/6/2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân H (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1995; nơi thường trú: Thôn N, xã L, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn M và bà Lê Thị P; có vợ và 01 con sinh năm 2024, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 51 ngày 07/6/2022, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên xét xử 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/3/2026, đến ngày 07/4/2026 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 02 - Công an thành phố Hà Nội
* Bị hại: Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm: 2007; nơi thường trú: Thôn T, xã P, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
Anh Nguyễn Đức T, sinh năm: 2007; nơi thường trú: Thôn N, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
Anh Lê Trọng D, sinh năm: 2007; nơi thường trú: Thôn 6, xã Q, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Xuân H nảy sinh ý định trộm cắp xe máy để bán lấy tiền. Khoảng 02 giờ ngày 29/3/2026, H đi xe taxi từ nhà đến khu đô thị V, xã G, thành phố Hà Nội để thực hiện hành vi trộm cắp. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 29/3/2026, H đi đến khu vực trước sảnh tòa S1.11, khu đô thị V, xã G, thành phố Hà Nội, H phát hiện thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xám, BKS: 99 AA- 459.08 của anh Nguyễn Tiến H (sinh năm: 2007; trú tại: thôn T, xã P, tỉnh Bắc Ninh) để trước sảnh, không khóa cổ, không khóa càng, không có người trông giữ. H dùng tay phải giật giắc đấu điện ở ổ khóa của xe, sau đó sử dụng hai thanh kim loại do H tự chế cắm vào giắc điện để đấu nối, làm nổ xe máy rồi mang về nhà cất giấu. Trên đường mang chiếc xe trên về nhà, H đã làm rơi biển kiểm soát, không biết rơi ở đâu.
Vụ thứ hai: Sau khi về nhà cất chiếc Honda Wave A, màu xám, BKS: 99AA-459.08 vừa trộm, H tiếp tục bắt taxi quay lại khu đô thị V. Khoảng hơn 02 giờ cùng ngày 29/3/2026, khi đến trước sảnh tòa S1.11, H phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, BKS: 99C1-608.92 của anh Nguyễn Đức T (Sinh năm: 2007; trú tại: thôn N, xã L, tỉnh Bắc Ninh), không có người trông giữ và tiếp tục dùng tay phải giật giắc đấu điện ở ổ khóa của xe, sau đó sử dụng hai thanh kim loại do H tự chế cắm vào giắc điện để đấu nối, làm nổ xe máy điều khiển xe máy đi.
Vụ thứ ba: Khoảng 02 giờ 45 phút cùng ngày 29/3/2026, H điều khiển xe máy: Honda Wave Alpha, màu đỏ, BKS: 99C1-608.92 vừa trộm cắp được đến trước sảnh tòa S1.07 phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 36B8-304.81 của anh Lê Trọng D (Sinh năm: 2007; trú tại: thôn 6, xã Q, tỉnh Thanh Hóa), không có người trông giữ. H đấu giắc điện xong chưa kịp nổ máy thì bị lực lượng bảo vệ khu đô thị V phát hiện bắt giữ và bàn giao Trần Xuân H cho Công an xã Gia Lâm giải quyết.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 99C1-608.92, số khung: RLHJA3916LY154099; số máy: JA39E1491986 đã qua sử dụng;
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 36B8-304.81, số khung: RLHJA3929MY126839; số máy: JA39E2244167 đã qua sử dụng;
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xám, số khung: RLHJA3937SY774329; số máy: JA70E1084402 đã qua sử dụng;
- 01 (một) đoạn kim loại sáng màu được uốn cong hình chữ U chiều dài 1,5 cm.
Ngày 29/3/2026, các anh Nguyễn Tiến H, Lê Trọng D, Nguyễn Đức T đến Công an xã Gia Lâm, Hà Nội trình báo và đề nghị cơ quan Công an điều tra làm rõ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2026 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự UBND xã Gia Lâm, Hà Nội kết luận:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xám, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3937SY774329; số máy: JA70E1084402 đã qua sử dụng định giá 16.000.000đ đồng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 99C1-608.92, số khung: RLHJA3916LY154099; số máy: JA39E1491986 đã qua sử dụng định giá 9.000.000 đồng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 36B8-304.81, số khung: RLHJA3929MY126839; số máy: JA39E2244167 đã qua sử dụng định giá 12.000.000 đồng
Tại Cơ quan điều tra, Trần Xuân H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Lời khai của H phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xám, số khung: RLHJA3937SY774329; số máy: JA70E1084402: Quá trình điều tra xác định là của anh Nguyễn Tiến H, mua xe máy trên từ khoảng tháng 10 năm 2025. Khoảng 01 giờ ngày 29/3/2026, sau khi đi chơi về, anh H có để xe trước sảnh tòa nhà S1.11 khu đô thị V, xã G, khi để xe anh H không khóa cổ, không khóa càng, không có người trông giữ. Sau đó, anh H lên phòng tại căn hộ để ngủ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh H xuống lấy xe thì phát hiện chiếc xe của anh H bị mất. Ngày 12/5/2026, Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên cho anh H. Anh H sau khi nhận lại tài sản không có thắc mắc, không đề nghị gì về dân sự, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Xuân H. Đối với chiếc Biển kiểm soát 99AA- 459.08, quá trình di chuyển H khai bị rơi mất trên đường đi hiện không thu hồi được.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 99C1-608.92: Quá trình điều tra xác định xe là của ông Nguyễn Đức P (Sinh năm: 1976; trú tại: thôn N, xã L, tỉnh Bắc Ninh), ông Pháo cho anh Đức T là con trai mượn để sử dụng đi lại. Khoảng 24 giờ ngày 28/3/2026, anh T đi làm đã dựng xe máy tại trước sảnh tòa nhà S1.11, khi để xe không khóa cổ, không khóa càng, không có người trông giữ. Đến khoảng 10 giờ ngày 29/3/2026, anh T xuống lấy xe thì phát hiện chiếc xe bị mất. Ngày 12/5/2026, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả chiếc xe trên cho anh T và ông P sau khi nhận lại tài sản không có thắc mắc, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Xuân H.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 36B8-304.81: Quá trình điều tra xác định là của ông Lê Trọng Trúc (Sinh năm 1952), ông T cho anh Lê Trọng D (là cháu nội ông Trúc) mượn để đi lại. Khoảng 18 giờ ngày 28/3/2026, anh D để xe trước sảnh tòa S1.07 V, xã G, khi để xe có khóa xe. Đến khoảng 06 giờ ngày 29/3/2026, anh D đi làm về thì không thấy chiếc xe. Ngày 12/5/2026, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trao trả chiếc xe trên cho anh D. Anh D sau khi nhận lại tài sản không có thắc mắc, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Xuân H.
Đối với 01 (một) đoạn kim loại sáng màu được uốn cong hình chữ U chiều dài 1,5 cm là tang vật của vụ án cần chuyển Cơ quan thi hành án để phục vụ xét xử.
Bản cáo trạng số: 95/CT-VKSKV5 ngày 03/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát đánh giá chứng cứ, phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Xuân H từ 24 đến 30 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai của người bị hại anh Nguyễn Tiến H, anh Nguyễn Đức T và anh Lê Trọng D; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã Gia Lâm, thành phố Hà Nội lập ngày 29/3/2026 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận:
Trong ngày 29/03/2026, tại Khu đô thị V, xã G, thành phố Hà Nội, bị cáo Trần Xuân H đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 02 giờ sáng ngày 29/3/2026, bị cáo trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xám, BKS 99AA- 459.08 của anh Nguyễn Tiến H có trị giá 16.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 02 giờ 30 phút sáng ngày 29/3/2026, bị cáo trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 99C1-608.92 của anh Nguyễn Đức T có trị giá 9.000.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 29/3/2026, bị cáo trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 36B8-304.81 của anh Lê Trọng D có trị giá 12.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Trần Xuân H chiếm đoạt là 37.000.000 đồng.
Như vậy, có đầy đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Xuân H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý mặc dù nhận thức được hành vi và hậu quả xảy ra, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo H là người có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên xét xử 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 51 ngày 07/6/2022, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích. Như vậy, đối với bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục cải tạo nhưng do bản tính tu dưỡng rèn luyện, ham chơi muốn có tiền nhưng không muốn bỏ sức lao động chính đáng của mình để làm ra của cải vật chất, nên bị cáo lại liên tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cũng xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, các bị hại sau khi nhận lại tài sản đều đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần áp các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xám, số khung: RLHJA3937SY774329; số máy: JA70E1084402 của anh Nguyễn Tiến H; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 99C1-608.92 của anh Nguyễn Đức T; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 36B8-304.81 của anh Lê Trọng D. Sau khi bị cáo H bị bắt giữ, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội đã trao trả cho các bị hại anh H, anh T và anh D, sau khi nhận tài sản các bị hại không có đề nghị bồi thường thiệt hại, nên không đề cập giải quyết.
Đối với 01 chiếc biển kiểm soát 99AA- 459.08 của xe mô tô Honda Wave A, màu xám, số khung: RLHJA3937SY774329; số máy: JA70E1084402 của anh Nguyễn Tiến H quá trình điều tra cơ quan điều tra không thu hồi được. Anh H cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường để làm lại BKS, không đề cập giải quyết.
Đối với 01 (một) đoạn kim loại sáng màu được uốn cong hình chữ U chiều dài 1,5 cm bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt, áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Xuân H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2026.
- Về vật chứng, áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Đối với 01 (một) đoạn kim loại sáng màu được uốn cong hình chữ U chiều dài 1,5 cm. Vật chứng nêu trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố Hà Nội và Phòng thi hành án Khu vực 5, thành phố Hà Nội ngày 16/6/2026.
- Về án phí, áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Xuân H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo, áp dụng: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
+ Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - TT lý lịch tư pháp TW-Bộ Tư pháp; - VKSND Khu vực 5 - Hà Nội; - PV06 - Công an thành phố Hà Nội; - Phòng THA Khu vực 5 - Hà Nội; - Bị cáo; bị hại; - Lưu HSVA, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Phương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Phương |