vanban.org

Bản án 317/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Trần Bảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Trần Bảo N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08-9-2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trần Bảo Ngọc - CGTS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Trần Bảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 317/2022/HSST
Ngày: 29-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Chung

2. Ông Ngô Kim Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 313/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Bùi Trần Bảo N, sinh năm 1999; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 3/49 đường Tr, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số 2/293 đường Tr1, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 9/12; con ông: Bùi Cương Q, sinh năm 1977 con bà: Trần Thị Hồng Nh, sinh năm 1980; gia đình có 02 anh em bị cáo là con thứ nhất; vợ: Vũ Thị Y, sinh năm 2002 và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08-9-2022 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).

Bị hại: Chị Trần Ngọc H, sinh năm 1994; trú tại: Xóm Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07-9-2022, Bùi Trần Bảo N mặc quần đùi thể thao màu xanh, hai bên có hàng chữ “EGAN”, áo thể thao ngắn tay màu trắng, cổ áo và lưng áo có chữ “EGAN”, đi dép lê màu đen điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh - đen - bạc BKS 37D1-19067 lang thang trên các tuyến phố trên địa bàn thành phố N mục đích tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Khi Ngọc đi đến khu vực trước cổng Công ty May 9, đường H, phường N, thành phố N phát hiện chị Trần Ngọc H, sinh năm 1994, trú tại xóm Đông Phong, xã Nam Phong, thành phố N đang điểu khiển xe máy Honda SH mode màu đỏ biển kiểm soát 18B1-915.84 đi trên đường H hướng ra đường Tr, vai phải chị H đeo một túi xách da màu đen, quai đeo màu đen - trắng, trong túi xách có 800.000 đồng. Ngọc điều khiển xe máy bám theo chị H đến trước cổng trường Trung cấp nghề số 8, xã Nam Phong, thành phố N thấy vắng người qua lại nên điều khiển xe máy vượt lên áp sát bên phải xe của chị H đồng thời nhanh chóng dùng tay trái giật chiếc túi xách của chị H kéo về phía Ngọc, chị H bị mất lái ngã ra đường, đầu gối phải chị H va chạm với mặt đường nên bị một vết bầm tím kích thước (3x3)cm không rách da, không chảy máu. Phần quai đeo của túi xách bị đứt tuột khỏi tay Ngọc rơi xuống đường, do lo sợ bị quần chúng nhân dân phát hiện nên Ngọc tăng ga tẩu thoát. Sau đó chị H đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N để trình báo sự việc và giao nộp 01 túi xách da màu đen, quai đeo màu đen - trắng và số tiền 800.000 đồng.

Ngày 08-9-2022 Bùi Trần Bảo N đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên. Thu giữ của Ngọc xe máy Honda Wave màu xanh - đen - bạc biển kiểm soát 37D1-190.67, 01 quần đùi thể thao màu xanh, hai bên có hàng chữ “EGAN”, 01 áo thể thao ngắn tay màu trắng, cổ áo và lưng áo có chữ “EGAN”, 01 đôi dép lê màu đen.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đoạn hình ảnh camera an ninh tại thời điểm xảy ra vụ án ghi lại hình ảnh 01 nam thanh niên mặc quần đùi thể thao màu xanh, áo thể thao ngắn tay màu trắng, đi dép lê màu đen điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh - đen - bạc biển kiểm soát 37D1-190.67 điều khiển xe máy áp sát xe của chị H. Kết quả trưng cầu giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong đoạn hình ảnh camera đã thu giữ. Bùi Trần Bảo N, chị Trần Ngọc H và anh Phạm Văn Đông, sinh năm 1992, trú tại thôn Tân Lập, xã Nam Phong, thành phố N là người làm chứng tại hiện trường xem đoạn hình ảnh camera và khẳng định nam thanh niên trong đoạn hình ảnh camera trên chính là Bùi Trần Bảo N.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận chiếc túi xách da màu đen, quai đeo màu đen - trắng Ngọc đã cướp giật của chị H có trị giá 45.000 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho chị H chiếc túi xách da màu đen và số tiền 800.000 đồng. Đối với xe máy Honda SH Mode màu đỏ biển kiểm soát 18B1-915.84 của chị H không bị hư hỏng, thiệt hại gì, chị H không yêu cầu xác định thiệt hại và đề nghị Cơ quan điều tra không giám định thương tích đối với chị H. Chị H nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh - đen - bạc biển kiểm soát 37D1-190.67 Thu giữ của Ngọc là tài sản của chị Lương Thị Chanh, sinh năm 1993, trú tại : Xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, chị Chanh không biết Ngọc mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan Điều tra đã trả lại cho chị Chanh

Bản cáo trạng số 315/CT-VKSTPNĐ ngày 30-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Bùi Trần Bảo N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Trần Bảo N khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Trần Bảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Bùi Trần Bảo N từ 36 đến 39 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 quần đùi thể thao màu xanh, hai bên có hàng chữ “EGAN”, 01 áo thể thao ngắn tay màu trắng, cổ áo và lưng áo có chữ “EGAN”, 01 đôi dép lê màu đen.

Bị cáo Bùi Trần Bảo N không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Do thiếu hiểu biết mà phạm tội nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Trần Bảo N tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 07-9-2022, bị cáo có hành vi điều khiển xe máy cướp giật của chị Trần Ngọc H 01 túi xách da màu đen trị giá 45.000 đồng, trong túi sách có số tiền 800.000 đồng tại trước cổng trường Trung cấp nghề số 8, xã Nam Phong, thành phố N. Tổng trị giá tài sản bị cáo mục đích chiếm đoạt là 845.000 đồng. Hành vi của bị cáo Bùi Trần Bảo N đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện vì mục đích tư lợi, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Bị cáo sử dụng xe máy thực hiện hành vi cướp giật của người đang điều khiển xe máy là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS, nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Bùi Trần Bảo N đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Trần Bảo N manh động, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị xử lý vi phạm lần nào. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp và cũng đủ sức răn đe ,giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về bồi thường dân sự: Chị Trần Ngọc H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, vì vậy không đặt ra để xem xét.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 quần đùi thể thao màu xanh, hai bên có hàng chữ “EGAN”, 01 áo thể thao ngắn tay màu trắng, cổ áo và lưng áo có chữ “EGAN”, 01 đôi dép lê màu đen không còn giá trị sử dụng và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Đối với xe máy Honda Wave màu xanh - đen - bạc biển kiểm soát 37D1-190.67 Thu giữ của Ngọc là tài sản Thuộc quyền sở hữu của chị Lương Thị Chanh, chị Chanh không biết Ngọc mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả cho chị Chanh là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Bùi Trần Bảo N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Trần Bảo N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Bùi Trần Bảo N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08-9-2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 quần đùi thể thao màu xanh, hai bên có hàng chữ “EGAN”, 01 áo thể thao ngắn tay màu trắng, cổ áo và lưng áo có chữ “EGAN”, 01 đôi dép lê màu đen (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố N).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Bùi Trần Bảo N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Bùi Trần Bảo N có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ