- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 317 /2018/ HSST Ngày 28 tháng 8 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quý My
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu;
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai.
Thư ký phiên tò a: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Huyền - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 301/2018/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2018/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Đào Đức M, sinh ngày 18/8/1988
HKTT: Tổ X, phường G, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa : 9/12; Nghề nghiệp: không. Con ông: Đào Việt H, sinh năm 1961, con bà Lê Thúy N, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ: Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1993; có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: -Tại bản án số 263/2009/HSST ngày 24/8/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 42 tháng tù giam, về tội: “Giao cấu với trẻ em”.
-Tại bản án số 391/2014/HSST ngày 25/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam, về tội: “Đánh bạc” phạt 3.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
*Người chứng kiến:
- Ông Giáp Văn H, sinh năm 1947, vắng mặt.
HKTT: Tổ A, phường L, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ ngày 18/6/2018, tổ công tác của Công an phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên tiến hành làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực tổ 8A của phường phát hiện có 01 nam thanh niên biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Đào Đức M. Qua kiểm tra, phát hiện tại túi quần bên trái M đang mặc có 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. M khai đó là ma túy tổng hợp mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tiến hành cân số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đào Đức M ngày 18/6/2018 có khối lượng là: 0,444 gam và lấy mẫu gửi giám định ký hiệu M.
Tại bản kết luận giám định số 800/KL – PC 54 ngày 25/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của M trong mẫu M gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,444 gam.
Tại Cơ quan điều tra Đào Đức M khai nhận: M nghiện ma túy từ cuối năm 2017 đến nay. Khoảng 13 giờ ngày 18/6/2018, M đi bộ một mình từ nhà đến khu vực cổng phụ Trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên, thuộc phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, M gặp và mua của một nam thanh niên tên L không rõ lai lịch, địa chỉ 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Methamphetamine, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong, M cất gói Methamphetamine vào túi quần bên trái rồi đi về nhà. Khi đi đến khu vực tổ 8A, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Lập phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 302/CT-VKSTPTN ngày 16/7/2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Đào Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo Đào Đức M khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Đức M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Đào Đức M từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 14 giờ ngày 18/6/2018 tại tổ 8A, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên, Đào Đức M đang có hành vi tàng trữ 0,444 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Đào Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, ma túy còn là hiểm họa cho xã hội, phát sinh các tệ nạn xã hội, làm khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội, bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân đã bị xét xử với hai bản án, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, nghiện chất ma túy dẫn đến phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS.
Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu M cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Về nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ, theo Đào Đức M khai mua của 01 nam thanh niên tên L không quen biết ở khu vực cổng phụ Trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ của nam thanh niên trên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Đào Đức M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2018.
Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu M.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 318 ngày 25/7/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Công an thành phố Thái Nguyên; - THADS thành phố Thái Nguyên; - Trại tạm giam công an tỉnh TN; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu HS,VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quý My |