- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quốc T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc T phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 317 /2017/HSST Ngày 08-12-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 348/2017/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 338/2017/HSST-QĐ ngày 24/11/2017 đối với bị cáo:
Dƣơng Quốc T, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Chỗ ở: 6/6 khu phố B, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc (hớt tóc); trình độ học vấn: 9/12; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Dƣơng Quốc H (đã chết) và con bà Phạm Thị H (đã chết), bị cáo có 1 em ruột sinh năm 1988, có vợ tên Bùi Thị Thiên T4, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 28/8/2017.
Ng i b hại: Anh Nguyễn Phƣớc T1, sinh năm 1974; thƣờng trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; tạm trú: 78/12 M, khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
Ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; tạm trú: 78/12 M, khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
2. Chị Dƣơng Mỹ T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Số 6/6 khu phố B, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3. Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 75/55/3 khu phố B, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt
Ng i làm chứng:
1. Anh Nguyễn Phƣớc L, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt
2. Chị Nguyễn Thị Ngoan E, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Hồng T3, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp T xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
4. Chị Bùi Thị Thiên T4, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Bị cáo Dƣơng Quốc T có vợ Bùi Thị Thiên T4 (ly hôn vào tháng 3/2016). Tháng 2/2016, bị cáo T sang nhƣợng tiệm tóc của mình cho vợ chồng chị Nguyễn Thị Ngoan E, anh Nguyễn Hồng T3 (chị E, anh T3 đặt tên tiệm tóc Q), sau khi sang nhƣợng chị T4 đến làm thuê cho chị Ngoan E.
Anh Nguyễn Phƣớc T1, Nguyễn Thị Thúy N, Nguyễn Phƣớc L, Nguyễn Thị Ngoan E là 04 anh em ruột cùng làm hớt tóc tại tiệm Q.
Vào lúc 10 giờ ngày 28/8/2017, bị cáo T cùng anh Huỳnh Đồng B cùng các bạn đi uống bia tại quán 79 thuộc khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, lúc này anh B lấy 01 con dao bấm mũi nhọn dài khoảng 30cm mang ra khoe do mới nhặt đƣợc, bị cáo T xin anh B làm kỷ niệm sau đó cất vào vào túi quần. Đến 16 giờ 30 cùng ngày tất cả nghỉ uống, bị cáo T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Attila, biển số 60X9-2110 chở anh B đến tiệm cắt tóc Q cạo mặt, lấy ráy tai. Khi đến tiệm tóc, bị cáo T gặp anh Nguyễn Phƣớc T1, Nguyễn Hồng T3, Nguyễn Thị Thúy N, Trần Thị Thanh T, Bùi Thị Thiên T4 đang ngồi chơi trƣớc tiệm tóc, anh Lê Minh T5 đang cắt tóc cho khách hàng.
Lúc này T chửi chị T4 “mày gan h , mày dám đ n đây làm h , mày nghĩ sao, tao đã sang ti m tóc cho ng i ta r i còn làm đây, mày còn làm đây là không coi tao ra gì”, sau đó cùng anh B vào nằm mỗi ngƣời một ghế trong phòng hớt tóc. Khi nằm T tiếp tục chửi chị T4 “mày lại đây làm cho tao, tao đâm ch t m mày”. Anh Nguyễn Phƣớc T1 đi đến chỗ T nói “Em à, em vào đây h t tóc, l y ráy tai thì em n m xu ng, t nhiên có ng i làm cho em, n u em ch i qu y thì em ra kh i ti m anh” bị cáo T ngồi dậy nói “mày là th ng nào”, anh T1 tát T vào mặt nói “tao là chủ ti m n ”, T đứng dậy lấy dao bấm trong túi quần, bật mũi dao lên đâm về phía anh T1, anh T1 tránh né, chị Nguyễn Thị Thúy N chạy đến xô T ra làm dao T trúng vào ngón tay áp út bên trái chị N, anh T1 chạy ra ngoài đƣờng T cầm dao đuổi theo anh T1, dùng dao đâm 01 nhát trúng vào cẳng tay phải, chị N chạy đến chỗ T truy hô, T dùng dao đâm về phía chị N làm trúng bàn tay trái. Lúc này anh Nguyễn Hồng T3 chạy vào tiệm cắt tóc lấy thanh kim loại dài khoảng 50cm (dụng cụ gắn bóng đèn dùng lấy ráy tai) đánh vào tay, chân T. T, anh T3 giằng co ngã xuống đất, thanh kim loại rơi xuống đƣờng, anh Nguyễn Phƣớc L chạy đến cầm thanh kim loại đánh vào đầu T làm T chảy máu sau đó anh L, T3 tƣớc dao khống chế T, Công an phƣờng Đông Hòa nhận tin báo đến lập biên bản. Anh Nguyễn Phƣớc T1, chị Nguyễn Thị Thúy N có đơn yêu cầu khởi tố.
Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0702/GĐPY/2017 ngày 14/9/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Đồng Nai kết luận Nguyễn Phƣớc T1 bị:
- Tổn thƣơng thần kinh trụ đoạn cổ tay phải mức độ nặng, tỷ lệ 25%; tổn thƣơng động mạch trụ phải, hiện tại tắc động mạnh trụ cổ tay phải biểu hiện thiếu máu nhẹ, tỷ lệ 15%; vết thƣơng cẳng tay phải để lại sẹo kích thƣớc 05 x 0,2cm, tỷ lệ 02%. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định 38%. Vật gây thƣơng tích vật sắc.
Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0725/GĐPY/2017 ngày 19/9/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Đồng Nai kết luận Nguyễn Thị Thúy N bị:
- Vết thƣơng lòng bàn tay trái để lại sẹo kích thƣớc 1,2 x 0,2 cm, vết thƣơng ngón IV bàn tay trái để lại sẹo kích thƣớc 1,3 x 0,2cm, tỷ lệ 02 %. Vật gây thƣơng tích vật sắc.
Bị cáo Dƣơng Quốc T bị anh Nguyễn Phƣớc L dùng thanh sắt kim loại đánh vào đầu gây rách ra, chảy máu. Bị cáo T không yêu cầu giám định, không yêu cầu bồi thƣờng.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Dƣơng Quốc T bồi thƣờng tiền thuốc, chi phí đi lại, tổn thất tinh thần cho bị hại Nguyễn Phƣớc T1 80.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thúy N 10.000.000 đồng. Anh T1 có đơn bãi nại. Chị N có đơn yêu cầu rút yêu cầu khởi tố.
Vật chứng thu giữ: 01 dao bấm bằng kim loại dài 30cm; 01 thanh kim loại dài 50 cm.
Cáo trạng số 338/QĐ/KSĐT ngày 16/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Dƣơng Quốc T về tội Cố ý gây thƣơng tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy dao nhọn, thanh kim loại do sử dụng và liên quan vào việc phạm tội.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi ngƣời bị hại, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo sớm về gia đình, xã hội làm việc để nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Dƣơng Quốc T khai nhận Vào ngày 28/8/2017, bị cáo T cùng anh Huỳnh Đồng B cùng các bạn đi uống bia, sau khi anh B mang 01 dao bấm dài khoảng 30cm ra khoe, bị cáo xin anh B dao và để trong túi quần. Đến 16 giờ 30 cùng ngày bị cáo T chở anh B đến tiệm cắt tóc Q cạo mặt, lấy ráy tai, (đây là tiệm cắt tóc bị cáo Q sang nhƣợng lại cho chị Nguyễn Thị Ngoan E). Biết chị Bùi Thị Thiên T4 vợ cũ của T làm thuê cho chị Ngoan E, bị cáo T đã chửi chị T4 thì anh Nguyễn Phƣớc T1 chồng chị N nói “Em à, em vào đây h t tóc, l y ráy tai thì em n m xu ng, t nhiên có ng i làm cho em, n u em ch i qu y thì em ra kh i ti m anh” bị cáo T nói anh T1 “mày là th ng nào”, thì bị anh T1 tát vào mặt, bị cáo T lấy dao bấm trong túi quần, bật mũi dao lên đâm về phía anh T1, anh T1 tránh né, chị Nguyễn Thị Thúy N chạy đến xô T ra làm dao T vào ngón tay áp út chị N, anh T1 chạy ra ngoài đƣờng T cầm dao đuổi theo anh T1 dùng dao đâm 01 nhát trúng vào cẳng tay phải, chị N chạy đến, T dùng dao đâm về phía chị N làm trúng tay trái, sau đó T bị các anh Nguyễn Hồng T3, anh Nguyễn Phƣớc L ngƣời làm trong tiệm tóc cầm thanh kim loại đánh vào đầu, tay và tƣớc dao từ T. Hậu quả việc trên làm anh T1 bị tổn thƣơng cơ thể 38 %, chị N bị tổn thƣơng cơ thể 2%. Anh T1, chị N có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, ngày 9/10/2017 chị N có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án.
Tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:
1. Ng i nào c ý gây th ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức kh e của ng i khác mà tỷ l th ơng t t từ 11% đ n 30% hoặc d i 11% nh ng thuộc một trong trong các tr ng hợp sau đây, thì b phạt c i tạo không giam giữ đ n ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đ n ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều ng i;
…
3. Phạm tội gây th ơng tích, gây tổn hại cho sức kh e của ng i khác mà tỷ l th ơng t t từ 61% tr lên hoặc dẫn đ n ch t ng i hoặc từ 31% đ n 60%, nh ng thuộc một trong các tr ng hợp quy đ nh tại các điểm từ điểm a đ n điểm k Kho n 1 Điều này, thì b phạt tù từ năm năm đ n m i lăm năm.
Nhƣ vậy, hành vi bị cáo Dƣơng Quốc T sử dụng dao nhọn dài khoảng 30cm đây là hung khí nguy hiểm đâm anh Nguyễn Phƣớc T1 làm anh T1 thƣơng tích 38% đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích. Bản cáo trạng số 338/QĐ-KSĐT ngày 16/11/2017 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo T cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe ngƣời bị hại Nguyễn Phƣớc T1 đƣợc pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo T mức án tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị hại Nguyễn Phƣớc T1; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại T1 tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tình tiết trên đƣợc quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo có nghề nghiệp ổn định, bị cáo nhất thời phạm tội
Ngoài gây thƣơng tích cho bị hại T1, bị cáo T còn gây thƣơng tích cho chị Nguyễn Thị Thúy N tỷ lệ 2% , gia đình bị cáo T bồi thƣờng cho chị N 10.000.000 đồng, chị N có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án. Đối với vết thƣơng ở đầu, tay của bị cáo T do anh Nguyễn Phƣớc L, Nguyễn Hồng T3 gây ra, bị cáo T từ chối giám định, không có yêu cầu khởi tố vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo T đã tác động gia đình bồi thƣờng tiền chi phí thuốc điều trị, tiền xe đi lại, tiền tổn thất tinh thần cho bị hại Nguyễn Phƣớc T1 80.000.000 đồng, bị hại T1 không có yêu cầu bồi thƣờng gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng; Quá trình điều tra thu giữ 01 dao nhọn dài khoảng 30cm, cây sắt dài khoảng 50cm. Vật chứng sử dụng, liên quan vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng do vậy tịch thu tiêu hủy.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt và việc xử lý vật chứng. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc T phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Dƣơng Quốc T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2017.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 74, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 30cm; 01 thanh kim loại dài khoảng 50cm. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/11/2017.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Bị cáo Dƣơng Quốc T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã; - Công an thị xã; - Chi cục THA dân sự thị xã; - TAND tỉnh BD; - UBND xã nơi bị cáo thƣờng trú; - Bị cáo; ngƣời bị hại; - Ngƣời liên quan; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |