- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Đòi tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án: 317/2017/DS-ST Ngày: 20-12-2017 V/v tranh chấp: “Đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Tám.
2. Ông Võ Thái Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Ông Lê Hữu Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2017/TLST-DS ngày 31 tháng
8 năm 2017 về tranh chấp “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 109/2017/QĐXX-ST, ngày 16 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Tổ 04, ấp Hiệp Hòa, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đẹp, sinh năm 1965. (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ 04, ấp Hiệp Hòa, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn là bà
Nguyễn Thị Thúy Hằng trình bày:
Bà là chủ hụi, bà Nguyễn Thị Đẹp là hụi viên có tham gia chơi của bà một
dây hụi 500.000 đồng/tháng, khởi khui ngày 25/7/2012, gồm 25 phần, bà Đẹp tham
gia một phần, hụi khui đến lần thứ 02 thì bà Đẹp bỏ hụi với giá 1.560.000 đồng và
hốt được 84.120.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà Đẹp chẳng những không đóng lại hụi chết mà còn cố tình trốn tránh trách nhiệm. Bà có đi tìm và đòi nhiều lần đến ngày 30/8âl/2014 tức ngày 23/9/2014 gặp được bà Đẹp, đôi bên kết toán nợ tổng cộng số tiền hụi mà bà Đẹp phải đóng lại cho bà là 23 lần x 5.000.000 đồng = 115.000.000 đồng, lúc bấy giờ bà Đẹp làm biên nhận có lăn tay vào biên nhận thừa nhận có nợ bà số tiền 115.000.000 đồng nhưng đến nay vẫn không trả.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Đẹp phải trả cho bà số
tiền 115.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Ngày 27/8/2017, bà Hằng có đơn yêu cầu giám định dấu vân tay của bà Đẹp
trong biên nhận ngày 30/8âl/2014 tức ngày 23/9/2014.
Tại Kết luận giám định số 398/KLGT-PC54 ngày 19 tháng 9 năm 2017 của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận: Hai dấu vân tay màu đỏ in tại vị trí dưới mục “Người nhận tiền” trên Biên nhận đề ngày 30/8/2014, ký hiệu: TLCGĐ: A so với dấu vân tay in trên bộ tờ khai chứng minh nhân dân và chỉ bản số 350687951 mang tên Nguyễn Thị Đẹp, sinh năm 1965, HKTT: xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, ký hiệu: TLMSS: M là của cùng một người in ra.
Bà Đẹp đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi
văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bà đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
Theo tờ tường trình ngày 15/10/2017 của một số hụi viên tham gia dây hụi và
tại bản lấy lời khai ông Nguyễn Văn Thông và bà Lê Thị Diễm vào ngày 17/10/2017 cũng là hụi viên tham gia dây hụi: Tất cả đều khẳng định rằng có tham gia dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 25/7/2012, gồm có 25 phần và bà Đẹp có cùng tham gia chơi với họ dây hụi này. Tuy nhiên họ không rõ là bà Đẹp đã hốt hụi hay chưa nhưng theo họ thì bà Đẹp đã hốt xong vì dây hụi đã mãn, còn việc bà Đẹp có đóng lại hụi chết hay chưa thì họ không biết. Khi bà Hằng giao số tiền hụi mà họ hốt được thì bà Hằng đều có đưa cho mỗi người 01 miếng giấy ghi bao nhiêu phần hụi sống, hụi chết và tính thành tiền bao nhiêu và không có làm biên nhận gì.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng như sau:
Về tố tụng: Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ
pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như ban hành văn bản tố tụng, cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đúng quy định của BLTTDS. Tuy nhiên bị đơn không chấp hành nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70; Điều 72 BLTTDS.
Về nội dung: Biên nhận ngày 30/8âl/2014 tức ngày 23/9/2014 thể hiện bà Đẹp
thừa nhận còn nợ bà Hằng số tiền hụi 115.000.000 đồng đến nay vẫn chưa trả. Tại
Kết luận giám định số 398/KLGT-PC54 ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận dấu vân tay trong biên nhận này do
của bà Dẹp in ra, đồng thời những người làm chứng đều xác định bà Đẹp có tham
gia chơi hụi như bà Hằng trình bày vì vậy bà Hằng khởi kiện là có căn cứ chấp
nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà
Nguyễn Thị Đẹp phải trả số tiền hụi còn nợ nên quan hệ tranh chấp của vụ án là
tranh chấp về “Kiện đòi tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố
tụng Dân sự.
Bà Đẹp với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Hiệp Hòa, xã
Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc
thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Bà Đẹp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của bà không làm ảnh hưởng đến quyền lợi
của bà và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra
xét xử vắng mặt bà là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
Về nội dung:
Bà Hằng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đẹp trả số tiền hụi còn
nợ là 115.000.000 đồng. Tòa đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo
quy định của pháp luật nhưng bà Đẹp vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình
về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa. Tuy bà
Đẹp không trình bày quan điểm của mình nhưng tại Kết luận giám định số
398/KLGT-PC54 ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh An Giang kết luận dấu vân tay trong biên nhận mà bà Hằng cung cấp là do của
bà Dẹp in ra, đồng thời những người làm chứng đều xác định bà Đẹp có tham gia
chơi hụi của bà Hằng. Do đó, đủ căn cứ để xác định bà Đẹp có thừa nhận nợ bà
Hằng số tiền là 115.000.000 đồng nên bà Hằng khởi kiện là có căn cứ được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì:
Bà Đẹp phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả nợ là:
115.000.000 đồng x 5% = 5.750.000 đồng (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Yêu cầu khởi kiện của bà Hằng được chấp nhận toàn bộ nên bà không phải
chịu án phí. Hoàn trả lại số tiền số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0016051 ngày 21 tháng 7 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Về chi phí giám định: Kết quả giám định chứng minh yêu cầu của bà Hằng
là có căn cứ nên theo quy định tại khoản 2 Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bà Đẹp phải chịu chi phí giám định là 1.020.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) theo Phiếu thanh toán bồi dưỡng giám định số 398/KLGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang. Do bà Hằng đã nộp đủ chi phí giám định nên bà Đẹp phải hoàn trả số tiền này cho bà Hằng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147; khoản 2 Điều 161; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 166; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy Hằng. Buộc bà
Nguyễn Thị Đẹp có nghĩa vụ trả cho bà Hằng số tiền là 115.000.000 đồng (một trăm mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí: Bà Đẹp phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.750.000 đồng
(năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Hằng không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho bà Hằng số tiền số tiền tạm
ứng án phí đã nộp là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0016051
ngày 21 tháng 7 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang.
- Về chi phí giám định: Bà Đẹp phải chịu chi phí giám định là 1.020.000 đồng
(một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) theo Phiếu thanh toán bồi dưỡng giám
định số 398/KLGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh An Giang. Do bà Hằng đã nộp đủ chi phí giám định nên bà Đẹp phải hoàn trả
số tiền này lại cho bà Hằng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có
lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được
tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Cơ quan Thi hành án huyện; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Nghĩa |