vanban.org

Bản án 316/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C ly hôn giữa anh K và chị H"
  • Căn cứ chính? Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THẤT
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 316 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-12-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Miến

2. Ông Nguyễn Văn Chiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Triệu Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2024/TLST-HNG§ ngày 10-10-2024 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-12-2024 giữa các đương sự:

Ng đơn: Anh Đỗ Đức K, sinh năm 1987; có mặt.

Bị đơn: Chị Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1990; có mặt.

Cùng nơi đăng ký thường trú: Thôn Phú L, xã Cần K, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07-5-2024 cùng bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 29-11-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án của Ng đơn anh Đỗ Đức K trình bày: Anh tự nguyện kết hôn với chị Vũ Thị Thanh H có đăng ký kết hôn ngày 18-11-2013 tại UBND xã Cần K, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Anh xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Đỗ Minh Ng, sinh ngày 28-7-2014. Hiện tại cháu đang ở với anh và ông bà nội. Hàng ngày, cháu được quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ. Anh đi làm có công việc và thu nhập và nơi ở ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Anh có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi dưỡng, chăn sóc con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Vũ Thị Thanh H xác nhận và trình bày: Chị kết hôn với anh Đỗ Đức K vào năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thể hóa giải được mặc dù đã được cả hai bên gia đình khuyên bảo. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Chị xác định không còn tình cảm vợ chồng nên đồng ý ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Minh Ng, sinh ngày 28-7-2014. Trong thời gian sống ly thân thì con chung ở với cả hai bên bố và mẹ (hàng tuần thì con chung ở với ông bà Nội 03 ngày, chị đón còn về ở cùng vào chiều Thứ 4 và từ chiều thứ 6 đến sáng thứ hai). Chị là nhân viên tại Trung tâm y tế huyện Thạch Thất, có thu nhập ổn định và thời gian để chăm sóc, giáo dục con chung còn nhỏ, rất cần sự quan tâm, chăm sóc, dạy bảo của mẹ. Khi ly hôn chị xin nhận nuôi cháu và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng.

Tại phiên tòa anh Đỗ Đức K và chị Vũ Thị Thanh H giữ Ng nội dung đã trình bày và quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án.

§¹i diÖn ViÖn Kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Việc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Việc xác định quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, thủ tục hòa giải đã được tiến hành đúng pháp luật; Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo, việc chuyển hồ sơ, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Đức K.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn chị Vũ Thị Thanh H cư trú tại xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Toà án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Đức K và chị Vũ Thị Thanh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội ngày 18-11-2013 là hôn nhân hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Ng nhân là do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa giải được dẫn đến ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Trong quá trình hòa giải trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa thì chị H nhất trí ly hôn theo yêu cầu xin ly hôn của anh K. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh K, chị H được ly hôn.

Về nuôi con chung: Anh K và chị H có 01 con chung là Đỗ Minh Ng, sinh ngày 28-07-2014. Trong thời gian vợ chồng ly thân thì con chung vẫn được cả hai bên chăm sóc, nuôi dưỡng (hàng tuần thì con chung ở với anh K và ông bà Nội 03 ngày, chị H đón con về ở cùng 04 ngày vào chiều Thứ 4 và từ chiều thứ 6 đến sáng thứ hai). Anh K và chị H đều có nguyện vọng nuôi con chung Đỗ Minh Ng nên các bên còn tranh chấp về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn. Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-05-2024 của HĐTP TAND tối cao thì việc việc giao con cho một bên nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; đối với con từ đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ. Xem xét trong trường hợp này thì thấy anh K và chị H đều đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung nhưng con chung Đỗ Minh Ng có có sự gắn bó thân thiết với mẹ hơn nên có nguyện vọng xin được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nên giao cháu Ng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị H là phù hợp với Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 6 Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-05-2024 của HĐTP TAND tối cao. Trên cơ sở xem xét mức thu nhập của người không trực tiếp nuôi con là anh Đỗ Đức K là 18.900.000 đồng/ 01 tháng (theo xác nhận của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam); buộc anh K cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H số tiền 4.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 01 năm 2025 đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

Về tài sản, công nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản và công nợ chung nên không xem xét.

Về án phí:

Án phí ly hôn sơ thẩm: Các bên đương sự tự nguyện ly hôn trước khi mở phiên tòa nên phải chịu 50% mức án phí quy định, buộc anh Đỗ Đức K và chị Vũ Thị Thanh H mỗi người chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (mỗi người phải chịu 25% tiền án phí phải nộp) theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-05-2024 của HĐTP TAND tối cao.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là anh Đỗ Đức K phải nộp 300.000 đống án phí theo quy định tại điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Thạch Thất tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ khoản 1 Điều 28 và các Điều 35, 39, 147, 243, 245, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 6, 7, 11 Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-05-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử cho anh Đỗ Đức K được ly hôn chị Vũ Thị Thanh H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Đỗ Minh Ng, sinh ngày 28-07-2014 cho chị Vũ Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung Đỗ Minh Ng thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác. Anh Đỗ Đức K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đỗ Đức K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H số tiền 4.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 01 năm 2025 đến khi con chung Đỗ Minh Ng đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

4. Về án phí: Anh Đỗ Đức K phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, cộng 02 khoản án phí là 375.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0018070 ngày 09-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội; số tiền án phí anh K còn phải nộp là 75.000 đồng.

Chị Vũ Thị Thanh H phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Đỗ Đức K và chị Vũ Thị Thanh H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

- TAND thành phố Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Thạch Thất (02 bản);

- CCTHADS huyện Thạch Thất;

- UBND xã Cần Kiệm (nơi đăng ký kết hôn);

- Những người tham gia tố tụng;

Nguyễn Tiến Trường

- Lưu HS; VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Miến Nguyễn Văn Chiến

Nguyễn Tiến Trường

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ