vanban.org

Bản án 316/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bình A. Chị Nguyễn Thị Bình A được ly hôn với anh Lê Thanh B.

Án phí: Chị Nguyễn Thị Bình A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014523 ngày 19/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, như vậy chị A đã thi hành xong. Chị Nguyễn Thị Bình A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bình A. Chị Nguyễn Thị Bình A được ly hôn với anh Lê Thanh B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 316/2018/HNGĐ-ST;
Ngày: 03/7/2018;
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Thủy;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hoa Kiều;

2/ Ông Nguyễn Quốc Thuần;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc, thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐXX-ST ngày 11/6/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Bình A – sinh năm: 1994;

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

*Bị đơn: Lê Thanh B - sinh năm: 1992;

Địa chỉ: ấp M1, xã N1, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

(Chị A có mặt, anh B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bình A trình bày:

Chị và anh Lê Thanh B cưới nhau vào tháng 05/2017 do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào năm 2017. Cuộc sống chung của vợ chồng chị rất hạnh phúc nhưng đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tháng 09/2017 anh B mang theo số vàng cưới bỏ nhà đi khoảng một tháng, khi anh B về vợ chồng chị có cự cãi. Sau đó, anh B lại bỏ nhà đi và mang theo số tài sản là vàng chung của hai vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh B.

Về con chung: Không có.

- 2 -

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Lê Thanh B vắng mặt không lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ và không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Nguyễn Thị Bình A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh B, do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.

Anh Lê Thanh B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do, do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A, Tòa xét thấy: Tại phiên tòa chị A trình bày cuộc sống vợ chồng chị cũng hạnh phúc nhưng đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B lấy số vàng là tài sản chung của vợ chồng bỏ nhà đi, sau đó quay về chị đã tha thứ cho anh B nhưng tiếp đó anh B lại lấy số vàng là tài sản chung của vợ chồng bỏ nhà đi. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 02/2018 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập anh B nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng anh B vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A, qua đó cho thấy anh B không có thành ý cứu vãn mối quan hệ hôn nhân với chị A. Do đó, Tòa án xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của chị A, cho chị A được ly hôn với anh B.

Về tài sản chung: Chị A không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bình A. Chị Nguyễn Thị Bình A được ly hôn với anh Lê Thanh B.

- 3 -

2. Án phí: Chị Nguyễn Thị Bình A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014523 ngày 19/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, như vậy chị A đã thi hành xong.

3. Chị Nguyễn Thị Bình A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Thanh B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thơi hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ