vanban.org

Bản án 315/2023/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 16/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Minh H và các đồng phạm - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 315/2023/HSPT
Ngày: 16 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Long

Các Thẩm phán:

ông Phạm Việt Cường

ông Phạm Văn Hợp

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Trường, Thư ký Tòa án nhân dân

cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân

cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng

Nam. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc

thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 250/2023/TLPT-HS ngày 25 tháng 5

năm 2023 đối v i bị cáo Nguyễn Thị Minh H và các đồng phạm về tội “Cưỡng

đoạt tài sản”; “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; do có kháng cáo của

các bị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HSST ngày 14/4/2023 của

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1983 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi

đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn P, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề

nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: L p 09/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nữ; tôn

giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1960 và

bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1962; có chồng là Đoàn Thạch C, sinh năm 1994;

có 04 con (con l n nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án,

tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư

trú”; có mặt tại phiên toà.

2. Lê Phư c A, sinh năm 1987 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký

HKTT và chỗ ở hiện nay: 65 Đ, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: L p 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phư c M, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1954; có vợ là Nguyễn Thị Tố M2, sinh năm 1991; có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/12/2021, tạm giữ ngày 05/12/2021, chuyển

tạm giam ngày 14/12/2021; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên toà.

3. Nguyễn Văn H3, sinh năm 1999 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi

đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: L p 11/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/12/2021, tạm giữ ngày 05/12/2021, chuyển

tạm giam ngày 14/12/2021; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên toà.

4. Trần Quốc Đ (Tên gọi khác: Ú), sinh năm 1997 tại huyện Đ, tỉnh

Quảng Nam; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: khu A, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ cơ khí; trình độ văn hóa: L p 11/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P, sinh năm 1964 và bà Hà Thị Liên M3, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ánh T1, sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/12/2021, tạm giữ ngày 05/12/2021, chuyển

tạm giam ngày 14/12/2021; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên toà.

5. Nguyễn Thế H5, sinh năm 1999 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Nơi

đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ điện lạnh; trình độ văn hóa: L p 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế N, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Lệ M4, sinh năm 1956; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/12/2021, tạm giữ ngày 05/12/2021, chuyển

tạm giam ngày 14/12/2021; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa:

1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Minh H: Luật sư Hà Khánh V

– Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ; và Luật sư Thái Quốc V1, Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố Đ; bào chữa theo yêu cầu của bị cáo; đều có mặt.

2. Người bào chữa cho bị cáo Lê Phư c A theo chỉ định: Luật sư Nguyễn

S – Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam; có mặt.

3. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H3 theo chỉ định: Luật sư Hồ

Văn S1 – Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam; có mặt.

4. Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc Đ theo chỉ định: Luật sư

Nguyễn Thị Tuyết S2 – Công ty L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam; có

mặt.

5. Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thế H5 theo chỉ định: Luật sư

Bùi Bá D – Văn phòng L5, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Nam; có mặt.

- Người bị hại:

1. Ông Phan N1, sinh năm 1941; trú tại: thôn P, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh

Quảng Nam; có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Ông Phan Đỗ Thành N2, sinh năm 1971; trú tại: thôn P, xã Đ, thị xã Đ,

tỉnh Quảng Nam; vắng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:

1. Bà Phan Đỗ Tân U, sinh năm 1967; trú tại: thôn P, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

2. Ông Trần Công T2, sinh năm 1997; trú tại: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

3. Ông Phạm Minh H6, sinh năm 1987; trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ,

tỉnh Quảng Nam; có mặt.

4. Ông Tăng Viết H7, sinh năm 1996; trú tại: thôn T, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh

Quảng Nam. vắng mặt.

5. Ông Hà Lê V2, sinh năm 1985; trú tại: thôn L, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

6. Bà Trương Thị T3, sinh năm 1969; trú tại: thôn S, thị trấn Á, huyện Đ,

tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ tháng 06/2019 đến tháng 09/2019, bà Phan Đỗ Tân U

có vay của Nguyễn Thị Minh H tổng số tiền 220.000.000 đồng để kinh doanh.

Đến tháng 01/2020, bà U đã trả cho H số tiền lãi của khoản vay trên là

174.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó bà U không có điều kiện trả tiếp nên H

tính cả tiền gốc và tiền lãi mà bà U nợ H là 500.000.000 đồng và H nhiều lần

yêu cầu bà U trả tiền, nhưng bà U vẫn chưa trả. Hương liên lạc, tìm gặp bà U

nhiều lần để đòi tiền nhưng không được.

Ngày 30/01/2021, Nguyễn Thị Minh H liên hệ v i Lê Phư c A để thuê

Anh đòi nợ cho H, vì qua gi i thiệu thì H biết được Lê Phư c A là dân xã hội “bặm trợn, hung hãn” thường đi đòi nợ thuê nên khi đòi tiền Anh sẽ dùng biện pháp mạnh để uy hiếp, đe dọa làm bà U sợ hãi mà trả tiền cho H. Khi gặp Lê Phư c A, H thỏa thuận v i A là nếu Anh đòi được số tiền 500.000.000 đồng của bà U thì Anh sẽ được chia 40% số tiền này. H mô tả nhà của bà U, nhà cha ruột của bà U để Anh biết, H còn nói v i A về việc bà U vay tiền để đưa cho ông Phan Đỗ Thành N2 (là em ruột bà U) tiêu xài cá nhân. H đưa cho Anh các “Giấy mượn tiền” thể hiện việc bà U nợ tiền H và cho A ứng trư c 10.000.000 đồng để chi phí đi lại ban đầu. Sau đó, Lê Phư c A cùng Trần Công T2 nhiều lần tìm đến nhà bà U để đòi nợ nhưng không gặp. Lê Phư c A ở Đ đi lại tìm bà U đòi nợ không thuận tiện nên đã bàn bạc và giao việc đòi nợ cùng các “Giấy mượn tiền” cho Phạm Minh H6. Đồng thời, Anh đưa cho H6 5.000.000 đồng trong số tiền được H ứng trư c và trao đổi v i H6 về việc nếu H6 đòi được tiền từ bà U thì sẽ ăn chia v i nhau. Sau đó, H6 cùng đối tượng tên H3 (khoảng 30 tuổi, nhà ở xã Đ, thị xã Đ) tìm đến nhà bà U để đòi nợ nhưng không gặp bà U. Đến tháng 4/2021, Phạm Minh H6 trả lại các “Giấy mượn tiền” cho Lê Phư c A.

Đến khoảng tháng 11/2021, H nghe được thông tin ông Phan N1 (cha ruột

của bà U) m i cho bà U, ông N2 mỗi người 01 lô đất đang làm thủ tục tách thửa để bán, nên H gọi điện báo cho Lê Phư c A biết và yêu cầu Anh tiếp tục thực hiện việc gặp bà U để lấy số tiền 500.000.000 đồng, H thỏa thuận sẽ trả cho Anh 50% số tiền lấy được. Sau đó, Lê Phư c A liên tục gọi điện thoại, nhắn tin đe dọa bà U để đòi tiền nhưng chỉ gặp ông Phan Đỗ Thành N2 (em ruột bà U) nghe máy, ông N2 hứa hẹn nếu bán được đất sẽ trả tiền trư c tết Nguyên Đán.

Ngày 01/12/2021, Lê Phư c A lập một nhóm trên Facebook đặt tên “Công

ty TNHH D1 thành viên” gồm có Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn P1 và Nguyễn Thế H5. Ngày 03/12/2021, H biết bà U có nhận hơn 100.000.000 đồng tiền cọc bán đất nên gọi điện cho Lê Phư c A hẹn vào ngày 04/12/2021 gặp nhau để đi tìm bà U đòi nợ. Sau đó, Lê Phư c A nhắn tin trên nhóm Facebook rủ H3, Đ, P1 cùng đi gặp H. Sáng ngày 04/12/2021, nhóm Lê Phư c A gặp H tại quán C1 trên Đường C thuộc xã Đ, thị xã Đ, H nói cho nhóm Lê Phư c A biết việc ông N2, bà U đang trốn ở nhà ngoại của U tại thôn P, xã Đ, thị xã Đ. Lê Phư c A yêu cầu H viết giấy ủy quyền và đưa các “Giấy mượn tiền” để thuận lợi khi đi đòi nợ. H đồng ý viết giấy ủy quyền cho Lê Phư c A đòi nợ v i nội dung: “Hương ủy quyền cho Lê Phư c A lấy số tiền 500.000.000 đồng mà bà U nợ H”, còn các “Giấy mượn tiền” thì H nói không mang theo nên sẽ đưa cho A sau. Lê Phư c A cầm theo giấy ủy quyền rồi cùng v i H3, P1, Đ và H đến nhà của ông Phan N1 tại thôn P, xã Đ, thị xã Đ để tìm bà U, ông N2 nhưng chỉ gặp ông N1 và ông N1 cho biết bà U không có ở đây nên H đi về còn nhóm của Anh đến nhậu tại quán trên đường Đ. Đến 15 giờ cùng ngày, A gọi điện rủ Nguyễn Thế H5, Nguyễn Thanh N3 đến nhậu. H5, N3 đồng ý vì N3 muốn xuống để lấy xe mô tô BKS: 92E1-40149 đang cho A muợn còn H5 tiện đường đi đăng ký tiêm Vắc xin Covid 19 tại thị xã Đ. Trư c khi đi, H5 đã biết nhóm của A đi đòi nợ nhà bà U nhưng H5 nghĩ buổi sáng đã đòi được tiền rồi, còn N3 thì không

biết việc nhóm của A đi đòi nợ. Đến 17 giờ cùng ngày, nhóm của Lê Phư c A

gồm A, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn P1, Nguyễn Thế H5, Nguyễn

Thanh N3 đang nhậu thì A bảo P1, H3 quay lại nhà của ông Phan N1 kiểm tra

có bà U hay không; P1, H3 đến nhà ông N1 nhưng không có ai ở nhà nên quay

lại quán nhậu tiếp. Lúc này, N3, H5 biết được nhóm của Lê Phư c A đang đi đòi

nợ bà U.

Khoảng 18 giờ ngày 04/12/2021, nhóm của Lê Phư c A nhậu xong chuẩn

bị ra về thì A nói v i tất cả mọi người trong nhóm cùng đi tìm bà U một lần

cuối. Lê Phư c A hỏi N3 và H5: “Bây giờ tụi anh xuống nhà U đòi nợ, tụi em

ưng đi thì đi” thì N3, H5 đồng ý đi cùng. Lúc này, Lê Phư c A cùng v i Nguyễn

Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn P1, Nguyễn Thế H5, Nguyễn Thanh N3 đi trên

03 xe mô tô đến nhà của ông Phan N1. Khi đến trư c cổng, nhóm của A dừng xe

nhìn thấy cổng đang khóa, đèn trong nhà sáng. Cả nhóm đi vòng theo tường rào

đến cổng phụ thấy cũng đang khóa, Lê Phư c A la l n nhiều lần: “Cô U ơi ra

trả nợ cho con, ôm năm trăm triệu trốn luôn rồi hả”, nhưng không nghe ai trả

lời. Lê Phư c A và P1 nhặt gạch, đá ném vào vào hiên, sân, mái tôn, hành lang

tầng trên của nhà ông N1. H5 nhổ cây cau trồng trư c cổng ném vào trong sân.

Đ, H3 lần lượt leo qua cổng phụ vào trong sân thì gặp ông N1 trong nhà đi ra,

H3 nói ông N1: “Đưa chìa khóa cho tôi mở cửa, đừng để ngoài đó ồn ào”. Ông

N1 hoảng sợ nên phải đưa chìa khóa để H3 mở cổng phụ cho Lê Phư c A và P1

đi vào. Đ dẫn ông N1 vào phòng khách, H3 nhìn lên trên gác thấy có điện sáng

nên chạy lên và gặp ông N2 và yêu cầu ông N2 đi xuống nói chuyện về việc trả

nợ. Lê Phư c A đi vào trong nhà gặp ông Phan N1 và ông N2 thì nói: “không có

bà U ở nhà thì ông N2 cũng được”, rồi la hét l n tiếng đe dọa ông N2: “Ông

ngồi xuống bàn nói chuyện, tiền của tôi ông tính răng”. Lúc này, có Đ, H3, P1

đứng gần đó, còn H5, N3 vẫn đứng ngoài cổng. Lê Phư c A quát l n nhiều lần

về việc ông N2 phải trả số tiền nợ, dùng tay đập bàn gây thủng 02 vết l n trên

mặt bàn, lấy một ly thủy tinh trên bàn ném mạnh xuống nền nhà, ném 02 ly thủy

tinh khác về phía ông N2 trúng vào tường nhà vỡ thành nhiều mảnh. Khi các đối

tượng đang có hành vi uy hiếp, đe dọa ông N1 và ông N2 trả số tiền

500.000.000 đồng mà bà U nợ Nguyễn Thị Minh H thì Công an xã Đ, thị xã Đ

phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi cưỡng đoạt tài

sản.

* Quá trình điều tra còn xác định được: trong thời gian từ tháng 6/2019

đến tháng 09/2019, Nguyễn Thị Minh H cho bà Phan Đỗ Tân U vay 05 lần v i

tổng số tiền 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu đồng) lãi suất từ 15% đến

20%/tháng (mỗi lần cho vay đều ghi giấy v i nội dung mượn tiền), cụ thể như

sau:

- Lần 1: vào ngày 16/6/2019, H cho bà U vay 20.000.000 đồng (hai mươi

triệu đồng), trả lãi 4.000.000 đồng/ tháng (lãi suất 20%/tháng, tương đương

240%/năm). H thu trư c tiền lãi của 01 tháng là 4.000.000 đồng (bốn triệu

đồng), đưa chị U 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Tháng sau, bà U thanh

toán tiền gốc 20.000.000 đồng cho H. Đối v i khoản vay này, H đã thu số tiền

lãi bất chính là 3.666.666 đồng.

- Lần 2: vào ngày 25/7/2019, H cho bà U vay số tiền 50.000.000 đồng (năm

mươi triệu đồng), trả lãi 7.500.000 đồng/tháng (lãi suất 15%/tháng, tương đương 180%/năm). H thu trư c tiền lãi của 02 tháng là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), còn giao bà U thực nhận 35.000.000 đồng. Đối v i khoản vay này, H đã thu số tiền lãi bất chính là 13.333.000 đồng.

- Lần 3: sau lần 2 vài ngày, H cho bà U vay số tiền 50.000.000 đồng (năm

mươi triệu đồng), trả lãi 7.500.000 đồng/tháng (lãi suất 15%/tháng, tương đương 180%/năm). H thu trư c tiền lãi của 02 tháng là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), còn giao bà U thực nhận 35.000.000 đồng. Đối v i khoản vay này, H đã thu số tiền lãi bất chính là 13.333.000 đồng.

- Lần 4: ngày 17/8/2019, H cho bà U vay số tiền 50.000.000 đồng (năm

mươi triệu đồng), trả lãi 7.500.000 đồng/tháng (lãi suất 15%/tháng, tương đương 180%/năm). H thu trư c tiền lãi của 02 tháng là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), giao bà U thực nhận 35.000.000 đồng. Đối v i khoản vay này, H đã thu số tiền lãi bất chính là 13.333.000 đồng.

Sau đó, H và bà U thống nhất gộp các khoản vay của lần 2, lần 3, lần 4

thành một khoản vay v i tổng số tiền vay là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), trả lãi 22.500.000 đồng/tháng (lãi suất 15%/tháng, tương đương 180%/năm). Bà U tiếp tục trả tiền lãi của các tháng 10, 11, 12/2019 tổng cộng là 67.500.000 đồng; thời gian sau việc làm ăn gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 nên bà U xin H cho nợ tiền lãi của tháng 01/2020. Sau đó bà U mất khả năng trả nợ nên còn nợ H tiền lãi của tháng 01/2020 là 22.500.000 đồng và tiền gốc vay 150.000.000 đồng. Đối v i khoản vay này, H thu số tiền lãi bất chính là 79.998.000 đồng nhưng thực tế H nhận 59.998.500 đồng do bà U còn nợ tiền lãi tháng 01/2020.

- Lần 5: vào ngày 16/9/2019, H cho bà U vay số tiền 50.000.000 đồng (năm

mươi triệu đồng), trả lãi 10.000.000 đồng/tháng (lãi suất 20%/tháng, tương đương 240%/năm). H thu trư c tiền lãi của 01 tháng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), giao chị U thực nhận 40.000.000 đồng. Sau đó, bà U tiếp tục thực hiện trả lãi cho H vào các tháng 10, 11, 12/2019 và tháng 01/2020, mỗi tháng 10.000.000 đồng, đến nay còn nợ tiền gốc 50.000.000 đồng. Đối v i khoản vay này, H thu tiền lãi bất chính là 45.833.333 đồng.

Như vậy, trong thời gian từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2019, Nguyễn Thị

Minh H cho bà Phan Đỗ Tân U vay tiền 05 lần v i tổng số tiền cho vay là 220.000.000 đồng v i mức lãi suất từ 180%/năm đến 240%/năm (cao gấp 9 lần đến 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự) v i tổng số tiền lãi thu lợi bất chính là là 169.499.999 đồng và thực tế H đã thu lợi bất chính số tiền 149.499.999 đồng.

* Vật chứng tạm giữ trong vụ án:

- Vật chứng tạm giữ khi bắt người phạm tội quả tang:

+ 13 (mười ba) mảnh gạch, đá, bê tông có kích thư c khác nhau;

+ 01 (một) bàn gỗ có kích thư c (80 x 180 x 100)cm, mặt bàn có 02 lỗ

thủng co kích thư c lần lượt (05 x 08)cm và (10 x 01)cm;

+ Nhiều mảnh vỡ thủy tinh (loại của ly bi);

+ 01 (một) cây cau đường kính gốc 7cm, cao 1,2m có bầu đất, cành lá cây

còn xanh tươi (đã giao ông Phan N1 trồng lại);

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, BKS: 92E1 –

440.17 đứng tên Nguyễn Phúc .

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen bạc, BKS: 92E1-

519.51, đứng tên Nguyễn Thế H5.

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu cam đen, BKS: 92E1-

401.49 đứng tên bà Trương Thị Tuyết .1 Đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật,

tài liệu số 23/QĐ-CQCSĐT ngày 06/10/2022, giao trả xe mô tô này cho bà T3.

+ 01 đĩa DVD bên trong chứa đoạn video dung lượng 01 phút 38 giây ghi

lại diễn biến quá trình Công an xã Đ, thị xã Đ bắt quả tang nhóm Lê Phư c A

đang có hành vi cưỡng đoạt tài sản.

- Các vật chứng tạm giữ trong quá trình điều tra:

+ 01 (một) giấy ủy quyền đề ngày 01/12/2021 v i nội dung Nguyễn Thị

Minh H ủy quyền cho Lê Phư c A lấy số tiền 500.000.000 đồng mà U nợ H

(giấy này do Lê Phư c A giao nộp);

+ Trần Công T2 giao nộp 04 (bốn) giấy mượn tiền, gồm: 01 (một) giấy

mượn tiền đề ngày 16/6/2019 v i nội dung Phan Đỗ Tân U mượn Nguyễn Thị

Minh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), có ký ghi tên Phan Đỗ

Tân U; 01 (một) giấy mượn tiền đề ngày 25/7/2019 v i nội dung Phan Đỗ Tân U

mượn Nguyễn Thị Minh H số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), có

ký ghi tên Phan Đỗ Tân U; 01 (một) giấy mượn tiền đề ngày 17/8/2019 v i nội

dung Phan Đỗ Tân U mượn Nguyễn Thị Minh H số tiền 150.000.000 đồng (một

trăm năm mươi triệu đồng), có ký ghi tên Phan Đỗ Tân U; 01 (một) giấy mượn

tiền đề ngày 16/9/2019 v i nội dung: Phan Đỗ Tân U mượn Nguyễn Thị Minh H

số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), có ký ghi tên Phan Đỗ Tân U;

+ 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J7 màu đen, có gắn sim số:

0356929292 và 0787434343 của Lê Phư c A;

+ 01 (một) điện thoại Mobiistar B310 màu trắng cam, gắn sim số

0963781274 của Trần Quốc Đ.

+ 01 (một) điện thoại Samsung màu xanh, có gắn sim số: 0766546526 của

Nguyễn P1;

+ 01 (một) điện thoại Redmi S10 màu xanh, có gắn sim số: 0967069604

của Nguyễn Thế H5;

+ 01 (một) điện thoại Mobell màu đen, có gắn sim số: 0769192192 của

Nguyễn Văn H3;

+ 01 (một) điện thoại Iphone XSMAX màu vàng của Nguyễn Thanh N3

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu S4 Galaxy A50 màu xanh, có gắn sim số

0935623941 và 0788351822 của Nguyễn Thị Minh H.

+ Số tiền 5.000.000 đồng do gia đình Lê Phư c A nộp vào tài khoản tạm

giữ của Phòng Cảnh sát ĐTTP về TTXH Công an tỉnh Quảng Nam (Nguyễn Thị Minh H thuê Lê Phư c A đi đòi nợ bà Phan Đỗ Tân U thì có ứng trư c 10.000.000 đồng; sau đó, A đưa cho Phạm Minh H6 5.000.000 đồng để H6 đòi nợ cho H, còn Anh giữ lại 5.000.000 đồng).

+ Số tiền 5.000.000 đồng do Phạm Minh H6 giao nộp, hiện đang tạm gửi

vào tài khoản tạm giữ của Phòng Cảnh sát ĐTTP về TTXH Công an tỉnh Quảng Nam (số tiền này H6 nhận từ Lê Phư c A khi nhận lời của Anh đi đòi nợ cho Nguyễn Thị Minh H).

* Kết quả định giám định: theo Kết luận giám định số 62/KL-KTHS (TL)

ngày 16/5/2022 của Phòng K Công an tỉnh Quảng Nam xác định:

- Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Minh H trên “giấy ủy quyền đề

ngày 1/12/2021” so v i chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Minh H trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết, ký ra.

- Chữ viết, chữ ký họ tên Lê Phư c A dư i mục “Người được ủy quyền

1/12/2021” trên giấy ủy quyền so v i chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Phư c A trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.

* Vấn đề dân sự trong vụ án: gia đình bị cáo Lê Phư c A đã đến gia đình

ông Phan N1 xin lỗi và đền bù thiệt hại về tài sản do các bị can đã gây ra vào ngày 04/12/2021 v i số tiền 5.000.000 đồng. Gia đình ông N1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số28/2023/HSST ngày 14-4-2023 và

Thông báo sửa chữa bổ sung bản án sơ thẩm số 10/2023/TB-TA ngày 06-6-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Lê Phư c A, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn

Thế H5, phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”; bị cáo Nguyễn Thị Minh H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 170; điểm s, h, n khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm a khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Minh H 08 (T4) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g

khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Minh H 06 (S3) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2017), tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh H phải chấp hành hình

phạt chung cho cả hai tội là 08 (T4) năm 06 (S3) tháng tù, thời hạn chấp hành

hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 170; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51;

điểm a khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Lê Phư c A 07 (B) năm tù; thời hạn

chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 170; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51;

điểm a khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017).

+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H3 05 (Năm) năm tù; thời hạn chấp hành

hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

+ Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc Đ 05 (Năm) năm tù; thời hạn chấp hành

hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế H5 03 (Ba) năm tù; thời hạn chấp hành

hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí

và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[3] Kháng cáo:

Ngày 21-4-2023 bị cáo Nguyễn Thị Minh H kháng cáo bản án sơ thẩm

cho rằng bị cáo bị oan về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; v i lý do: bà U nợ tiền bị

cáo là có thật; bị cáo chỉ ủy quyền đi đòi nợ, còn hành vi có đe dọa hay không là

hành vi vượt quá của những người đi đòi nợ; các bị hại khai tại phiên tòa sơ

thẩm là không có việc đe dọa hay dùng vũ lực gì v i họ, “ông N2 khai tại tòa là

hành vi của các bị cáo tại hiện trường không làm ông sợ hãi đến mức phải giao

tài sản”.

Ngày 15-4-2013 bị cáo Lê Phư c A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 17-4-2023 bị cáo Nguyễn Thế H5, Nguyễn Văn H3 kháng cáo xin

giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 27-4-2023 bị cáo Trần Quốc Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị Minh H kháng cáo kêu oan về tội“Cưỡng đoạt tài

sản”, cho rằng việc ủy quyền đòi nợ bà U là quan hệ dân sự, bị cáo ủy quyền đòi

nợ bà U chứ không đòi ông N1 hay ông N2, bị cáo vừa bị mất tiền vừa phải đi

tù. Đề nghị xem xét về tội danh và hình phạt đối v i bị cáo. Đề nghị hủy bản án

sơ thẩm để điều tra lại, bị cáo không chủ mưu, không chỉ đạo các bị cáo khác đi

cưỡng đoạt tài sản.

Những người bào chữa cho bị cáo H đều cho rằng chưa đủ căn cứ để buộc

tội bị cáo H cưỡng đoạt tài sản. Do bà U nợ không trả nên bị cáo phải đi đòi nợ, bị cáo nhiều lần đòi nhưng do bà U không trả nên phải ủy quyền người khác đi đòi giúp. Bị cáo H không có mặt tại hiện trường, quá trình điều tra cũng không có tài liệu chứng cứ nào cho thấy bị cáo chỉ đạo các bị cáo khác cưỡng đoạt. Những người bị hại đều khai hành vi các bị cáo “không làm sợ hãi đến mức phải giao tài sản”, “ông N1 khai khi các bị cáo vừa vào sân thì ông bị ngất xỉu”. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Các bị cáo Lê Phư c A, Nguyễn Thế H5, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ

đều giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Trình bày lý do kháng cáo là hành vi của bị cáo cũng chỉ đi đòi nợ thuê, bà U nợ bà H là có thật nhưng không chịu trả. Mức hình phạt là quá nặng, bởi các bị cáo không có tiền án tiền sự, nhân thân tốt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tại giai

đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung các kháng cáo: do không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận các kháng cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: các Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Nam đã

thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội:

Trong thời gian từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2019, Nguyễn Thị Minh H

cho bà Phan Đỗ Tân U vay 05 lần v i tổng số tiền 220.000.000 đồng, mức lãi suất của từng lần vay từ 180%/năm đến 240%/năm. Đến tháng 01/2020, bà U không có điều kiện trả tiền vay, H tính cả tiền gốc và tiền lãi mà bà U nợ H là 500.000.000 đồng và nhiều lần yêu cầu bà U trả tiền nhưng bà U không trả. Sau đó, H biết được Lê Phư c A thường đi đòi nợ thuê sẽ có biện pháp uy hiếp, đe dọa làm bà U sợ hãi sẽ trả tiền cho H nên H thuê A đòi nợ v i thỏa thuận sẽ trả cho Anh 50% số tiền 500.000.000 đồng mà bà U nợ H. Khoảng 18 giờ ngày 04/12/2021, Lê Phư c A cùng v i Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn P1, Nguyễn Thế H5, Nguyễn Thanh N3 đến nhà của ông Phan N1 tìm bà U để đòi nợ. Tại đây, A và P1 nhặt gạch, đá ném vào hiên, sân, mái tôn, hành lang tầng trên của nhà ông N1; H5 nhổ cây cau trồng trư c cổng ném vào trong sân; Đ, H3 lần lượt leo qua cổng phụ vào trong sân đe dọa ông N1 đưa chìa khóa để H3 mở cổng phụ cho Lê Phư c A và P1 đi vào nhà. Khi vào trong nhà, Lê Phư c A gặp ông Phan N1 và ông Phan Đỗ Thành N2 thì nói: “không có bà U ở nhà thì ông N2 cũng được”, rồi la hét l n tiếng đe dọa ông N2: “Ông ngồi xuống bàn nói chuyện, tiền của tôi ông tính răng”. Lê Phư c A dùng tay đập bàn gây thủng

02 vết l n trên mặt bàn, lấy một ly thủy tinh trên bàn ném mạnh xuống nền nhà,

ném 02 ly thủy tinh khác về phía ông N2 trúng vào tường nhà vỡ thành nhiều

mảnh; ngay sau đó nhóm của Lê Phư c A bị Công an xã Đ phát hiện bắt quả

tang.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Minh H

Vì bà Phan Đỗ Tân U có nợ tiền của bị cáo Nguyễn Thị Minh H nhưng

không chịu trả nên bị cáo H đã thuê bị cáo Lê Phư c A đi đòi nợ cho mình. Sau

đó, dư i sự chỉ đạo của bị cáo H, bị cáo Lê Phư c A cùng v i các bị cáo

Nguyễn P1, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5, Nguyễn Thanh N3

đã t i nhà ông Phan N1 (cha ruột của bà U) và đã có hành vi dùng vũ lực, đe

doạ, đập phá tài sản, uy hiếp tinh thần đối v i ông N1 (cha ruột bà U) và ông

Phan Đỗ Thành N2 (em trai ruột của bà U) nhằm mục đích buộc ông N1 và ông

N2 phải trả nợ số tiền 500.000.000 đồng mà bà U nợ bị cáo H nhưng chưa chiếm

đoạt được tài sản thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Bị cáo H cho rằng bị cáo ủy quyền cho bị cáo A đòi nợ thuê là quan hệ dân

sự, có giấy ủy quyền rõ ràng, tuy nhiên bị cáo H và bị cáo A đã có liên hệ và

thỏa thuận đòi nợ thuê từ ngày 30-01-2021, bị cáo A đã nhiều lần nhắn tin đe

dọa nên bà U phải trốn tránh. Bị cáo A đã gọi nhiều người lập thành nhóm đòi

nợ để gây áp lực và ngay ngày 04-12-2021 thì nhóm của bị cáo A đã gặp H để

trao đổi, lúc này bà U đang phải đi trốn nhóm của Anh và bị cáo H thông tin cho

nhóm bị cáo A biết nơi bà U đang trốn. Lúc này, bị cáo H m i ghi giấy ủy quyền

theo đề nghị của bị cáo A là hình thức để nhóm của Anh có c để đòi nợ. Cùng

ngày, thì nhóm của bị cáo A gồm 06 người đến nhà ông N1 (theo đúng địa chỉ

mà bị cáo H thông báo) gặp ông N1, ông N2 và đã có hành vi gây uy hiếp về

tinh thần, bằng cách đe dọa sẽ dùng vũ lực buộc những người này trả tiền thay

cho bà U là hành vi cưỡng đoạt đối v i ông N1 và ông N2, những người này

không có quan hệ dân sự vay mượn v i bị cáo H. Bị cáo H và những người bào

chữa cho rằng các bị hại “không làm sợ hãi đến mức phải giao tài sản”, nhưng

ông N1 khai bị ngất là thể hiện tâm lý lo sợ vào thời điểm đó; và nếu các bị hại

“sợ hãi đến mức phải giao tài sản” thì hành vi của các bị cáo có thể phải chịu

trách nhiệm hình sự ở mức nặng hơn.

Do đó, Bản án sơ thẩm đã quyết định các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê

Phư c A, Nguyễn P1, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5, Nguyễn

Thanh N3 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 170 Bộ luật

Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kháng

cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Thị Minh H không có cơ sở chấp nhận.

Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị Minh H còn có hành vi cho bà Phan Đỗ Tân U

vay tiền 05 lần v i tổng số tiền cho vay là 220.000.000 đồng, lãi suất vay từ

180%/năm đến 240%/năm (cao gấp 09 lần đến 12 lần mức lãi suất cao nhất quy

định trong Bộ luật Dân sự), số tiền lãi thu lợi bất chính là 169.499.999 đồng;

hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho

vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H không có ý kiền gì về hành vi phạm tội này.

[4] Xem xét về hình phạt về tội “Cưỡng đoạt tài sản”của các bị cáo:

Hành vi Cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê Phư c

A, Nguyễn P1, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5, Nguyễn Thanh N3 đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng đối v i mỗi bị cáo về từng hành vi đồng phạm m i có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

Đối v i tội “Cưỡng đoạt tài sản”, các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê

Phư c A, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5, thực hiện hành vi phạm tội có sự liên lạc, trao đổi, cấu kết chặt chẽ v i nhau; trong đó, bị cáo H giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu, là người chỉ dẫn địa điểm, chỉ đạo thời gian; các bị cáo còn lại là đồng phạm v i vai trò thực hành tích cực. Do đó, các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đều đều không có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và

xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo H tuy cho rằng không phạm tội cưỡng đoạt, nhưng đã thành khẩn khai rõ hành vi của mình; các bị hại chưa bị chiếm đoạt tài sản nên các bị cáo đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê Phư c A, Nguyễn Thế H5, đã tác động gia đình bồi thường cho ông Phan N1 và ông N1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các bị cáo Nguyễn Thế H5, Nguyễn Thanh N3 đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ già yếu, bị cáo H là lao động chính trong gia đình nuôi 04 con nhỏ và cha mẹ già yếu (đã được chính quyền địa phương xác nhận) ; tại phiên toà sơ thẩm, các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên tất cả các bị cáo đều được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị Minh H thực hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê Phư c A đã được bản án sơ thẩm áp

dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử các bị cáo mức án dư i mức thấp nhất của khung hình phạt, quy định tại khoản 4 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn P1, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5,

Nguyễn Thanh N3 đều được bản án sơ thẩm nhận định giữ vai trò thứ yếu trong vụ án nên được áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử các bị cáo mức án dư i mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xem xét về nhân

thân, để xử phạt các bị cáo các mức hình phạt đều dư i mức thấp nhất của

khung hình phạt, là đã xem xét đến nguyên nhân, hậu quả và tính chất, mức độ

về hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận

kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

[5] Về hình phạt đối v i tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”:

Bị cáo Nguyễn Thị Minh H nhiều lần cho bà U vay lãi nặng nên bị áp

dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều

52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Minh H

thực hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai; trong quá trình điều tra và tại

phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia

đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nuôi 04 con nhỏ và cha mẹ già

yếu (đã được chính quyền địa phương xác nhận) nên bị cáo được hưởng các tình

tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình

sự.

Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo

mức hình phạt phù hợp, bởi bị cáo phạm 02 tội trong vụ án. Hội đồng xét xử

phúc thẩm giữ nguyên hình phạt của bị cáo.

[6] Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê Phư c A, Nguyễn Văn

H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí

hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê

Phư c A, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5, giữ nguyên tội danh

và hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HSST ngày 14-4-2023 của

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

2. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 170; điểm s, h, n khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm a khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị

cáo Nguyễn Thị Minh H 08 (T4) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn

chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g

khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Minh H 06

(S3) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; thời hạn chấp

hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2017), tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (T4) năm 06 (S3) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

3. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 170; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm a khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Lê Phư c A 07 (B) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

4. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 170; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm a khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H3 05 (Năm) năm tù; thời hạn chấp hành

hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

- Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc Đ 05 (Năm) năm tù; thời hạn chấp hành hình

phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế H5 03 (Ba) năm tù; thời hạn chấp hành

hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 04/12/2021).

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Lê Phư c

A, Nguyễn Văn H3, Trần Quốc Đ, Nguyễn Thế H5 phải chịu mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng

cáo, kháng nghị nên không xem xét; đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ