- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị L - Dương Trường L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 315/2023/HNGĐ-ST Ngày 08-8-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Hiền.
2. Bà Trần Thiều Huệ Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quí – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1977 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: khu phố *, phường *, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Anh Dương Trường L, sinh năm 1972 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn ly hôn ngày 10/3/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị L trình bày:
Chị L và anh L bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 3, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống đẫn đến vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Dương Lê Tường V, sinh ngày 29/8/2007 và Dương Lê Tường V1, sinh ngày 24/12/2012, hiện cả 02 con đang sống chung với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
* Bị đơn là anh Dương Trường L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh L không đến Tòa án, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị L.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không kiến nghị gì về tố tụng.
Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn được; đối với các cháu V, V1 hiện đang sống chung với chị L nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị L yêu cầu ly hôn với anh L và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đây là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh L là bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã T, huyện G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; anh L đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L, anh L.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh L chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường 3, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54/HT ngày 07/11/2006 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị L trình bày trong quá trình chung sống, giữa chị và anh L xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ của chị L giao nộp cho anh L. Nội dung thông báo về việc thụ lý vụ án có nêu rõ yêu cầu được ly hôn của chị L nhưng anh L không thể hiện ý kiến phản đối đối với yêu cầu của chị L. Do vậy, cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị L và anh L đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:
- Về nuôi con chung: Chị L và anh L có hai con chung chưa thành niên tên Dương Lê Tường V và Dương Lê Tường V1. Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu V, V1.
Tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; …”.
Quá trình giải quyết vụ án anh L vắng mặt nên không có sự thỏa thuận về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Theo biên bản xác minh ngày 15/6/2023 của Tòa án thì hiện cả hai cháu V, V1 đang sống chung với chị L và nguyện vọng của các cháu cũng muốn được tiếp tục sống chung với mẹ. Để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo sự phát triển bình thường cho các cháu nên Hội đồng xét xử giao các cháu V, V1 cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu sau này anh L có yêu cầu về con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L, anh L chưa có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về chia tài sản, nợ chung: Chị L, anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh L không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn với anh Dương Trường L.
1.2. Về con chung: Giao các cháu Dương Lê Tường V, sinh ngày 29/8/2007 và Dương Lê Tường V1, sinh ngày 24/12/2012 cho chị Lê Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Tạm thời anh Dương Trường L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Dương Trường L có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
2. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0027059 ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây nên chị L đã nộp xong án phí.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai bản án, chị Lê Thị L, anh Dương Trường L được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Phú |