vanban.org

Bản án 315/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 15/12/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Tuyết H. Buộc anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Tuyết H là 20.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà H cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng anh K, chị L phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Về án phí dân sự sơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trần Tuyết H- Mạch Thùy L, Đặng Văn K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Tuyết H. Buộc anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Tuyết H là 20.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 315/2023/DS-ST
Ngày 15 - 12 - 2023
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoài Phong.

Ông Nguyễn Văn Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 696/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 404/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Tuyết H, sinh năm 1966; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Chị Mạch Thùy L, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Anh Đặng Văn K, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Trần Tuyết H trình bày: Ngày 20/6/2020al bà mở dây hụi loại 1.000.000 đồng gồm 35 phần, mỗi tháng mở hụi một lần, vợ chồng anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L tham gia 02 phần. Khi mở hụi đầu tiên thì vợ chồng anh K lĩnh hụi, đến ngày 20/9/2020 vợ chồng anh K tiếp tục lĩnh phần hụi còn lại. Sau đó vợ chồng anh K góp hụi cho các thành viên đến khi còn 11 kỳ thì không góp nữa, bà phải góp thay số tiền là 22.000.000 đồng. Ngoài ra vợ chồng anh K còn nợ 3.000.000 đồng tiền hụi trước đó, tổng cộng là 25.000.000 đồng. Vợ chồng anh K trả được 5.000.000 đồng, còn nợ lại bà số tiền 20.000.000 đồng.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản hợp lệ cho anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L nhưng anh K, chị L không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà H, không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Bà Trần Tuyết H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Tuyết H thấy rằng: Theo Hợp đồng chơi hụi 1.000.000 đồng do bà Trần Tuyết H lập ngày 20/6/2020 thể hiện tại vị trí thứ 25, 26 có tên vợ chồng anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L, đồng thời tại các biên nhận hốt hụi ngày 30/6/2020 al, 30/9/2020 al chị L, anh K là người ký tên nhận 20.520.000 đồng và 22.480.000 đồng tiền lĩnh hụi. Anh K, chị L đã nhận được thông báo của Tòa án về nội dung bà H khởi kiện, cũng như đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ của Tòa án và tài liệu chứng cứ do bà H cung cấp nhưng không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của bà H. Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do anh K, chị L không phản đối yêu cầu khởi kiện của bà H nên khẳng định việc anh K, chị L có nợ bà H số tiền hụi 20.000.000 đồng, nhưng sau đó không trả là có thật. Việc anh K, chị L không trả nợ làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà H nên buộc anh K, chị L có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền trên là phù hợp theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà H được chấp nhận nên K, chị L phải chịu 5% tương ứng với số tiền phải trả cho bà H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Tuyết H. Buộc anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Tuyết H là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà H cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng anh K, chị L phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Đặng Văn K và chị Mạch Thùy L liên đới chịu là 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

- Bà Trần Tuyết H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sư sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0000671 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà H, anh K, chị L có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ