- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án sơ thẩm - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 L…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 315/2022/HS-ST Ngày: 30-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuý Phƣợng.
2. Bà Trần Ngọc Phƣơng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 315/2022/TLST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 312/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: 8/36 đƣờng Đx , khu phố 5, phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị C; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 26/7/2022. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Hữu T không có giấy phép lái xe ô tô hạng B2. Vào năm 2020, T lên mạng xã hội Facebook là “Giấy phép lái xe” thấy có đăng thông tin làm đƣợc giấy phép lái xe ô tô hạng B2 giả nên T nhắn tin đặt mua với giá 4.000.000 đồng. Khi đặt mua giấy phép lái xe, T gửi thông tin họ tên, địa chỉ, ngày sinh và chụp hình ảnh của T gửi qua cho đối tƣợng (chƣa rõ thông tin, lai lịch) để làm giả. Đến khoảng 1 tuần sau, T nhận đƣợc 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 là giả do nhân viên giao hàng tại khu vực chùa bà thuộc phƣờng Phú Cƣờng, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng rồi T cất giữ trong bóp để sử dụng khi tham gia giao thông. Đến khoảng 17 giờ 30 phút 09/5/2022, T điều khiển xe ô tô biển số: 61K-073.84 lƣu thông trên đƣờng Quốc Lộ 13 hƣớng từ thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng về hƣớng thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Khi Tài điều khiển xe ô tô lƣu thông đến ngã tƣ Đất Thánh giao nhau giữa Quốc Lộ 13 với đƣờng 22/12 thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì T rẽ trái để đi về hƣớng đƣờng 22/12 tại nơi có biển cấm rẽ trái nên bị Tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát giao thông tỉnh Bình Dƣơng tiến hành kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính lỗi trên. Quá trình kiểm tra, T xuất trình 01 Giấy phép lái xe (PET) số: 790175325498, hạng B2, họ tên: Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1999, nơi cƣ trú: Phƣờng. Định Hòa, Tp. Thủ Dầu Một, T. Bình Dƣơng, đề ngày 24/10/2018 là giả nên tổ công tác tiến hành lập biên bản tạm giữ phƣơng tiện, tang vật liên quan, sau đó mời T về trụ sở làm việc. Quá trình lấy lời khai, Nguyễn Hữu T khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ trên.
Theo kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 20/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 01 (một) “Giấy phép lái xe” (PET) số: 790175325498, hạng B2, họ tên: Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1999, nơi cƣ trú: Phƣờng. Định Hòa, Tp. Thủ Dầu Một, T. Bình Dƣơng, đề ngày 24/10/2018 (ký hiệu A) là giả.
Bản Cáo trạng số 310/CT-VKS -TA ngày 19/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 tháng tù đến 11 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lƣu hồ sơ vụ án Giấy phép lái xe(PET) số: 790175325498, hạng B2, họ tên: Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1999, nơi cƣ trú: Phƣờng. Định Hòa, Tp. Thủ Dầu Một, T. Bình Dƣơng, đề ngày 24/10/2018.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, tại phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Hữu T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, có đủ cơ sở kết luận:
Vào năm 2020, Nguyễn Hữu T đã có hành vi cung cấp thông tin và hình ảnh cá nhân cho đối tƣợng (chƣa rõ thông tin nhân thân, lai lịch) làm giả 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2, mang tên Nguyễn Hữu T để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/5/2022, T điều khiển xe ô tô biển số: 61K-073.84 mang theo 01 giấy phép lái xe hạng B2 là giả lƣu thông đến đƣờng 22/12 thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì bị Tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát giao thông tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra, yêu cầu xuất trình giấy tờ nên Tài đƣa giấy phép lái xe ô tô hạng B2 là giả cho tổ công tác thì bị phát. Nguồn gốc giấy phép lái xe là do bị cáo thỏa thuận, nhờ ngƣời khác rồi cung cấp thông tin cá nhân của mình để họ để làm giả cho bị cáo, do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo về tội “Làm giả tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tội danh “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này, do muốn có giấy phép lái xe để sử dụng nên bị cáo có hành vi cung cấp thông tin cá nhân để làm giả giấy phép lái xe, ngoài hành vi trên bị cáo chƣa sử dụng giấy phép lái xe để thực hiện hành vi trái pháp luật nào khác. Do đó, hành vi của bị cáo chƣa đủ yếu tố cấu thành tội danh “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nhƣ Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm, nhƣng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến sự hoạt động bình thƣờng và uy tín của các Cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt đối với bị cáo theo lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, để bị cáo có cơ hội lao động chăm sóc gia đình; đồng thời hành vi của bị cáo chƣa gây thiệt hại đối với ngƣời khác, mục đích bị cáo làm giả giấy phép lấy xe là để sử dụng cho bản thân và việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời c ng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo.
Đối với đối tƣợng làm giả 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 cho bị cáo Nguyễn Hữu T hiện chƣa rõ thông tin nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đang tiếp tục điều tra, khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X do bị cáo Nguyễn Hữu T sử dụng để liên lạc với đối tƣợng nhờ làm giả giấy phép lái xe ô tô, hiện không thu hồi đƣợc do bị cáo T bán cho ngƣời khác không rõ địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không thu hồi đƣợc để xử lý theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đối với “Giấy phép lái xe” giả là vật chứng đi kèm hồ sơ nên tiếp tục lƣu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 11 (mƣời một) tháng tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách 22 tháng, tính từ ngày tuyên án 30/11/2022.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu T cho Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp bị cáo Nguyễn Hữu T thay đổi nơi cƣ trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND TP Thuận An; - Chi cục THADS TP Thuận An; - Công an T.P Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, AV. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƢƠNG Vào hồi 09 giờ 00 ngày 08 tháng 4 năm 2020; Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tấn Tài. tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo: Dƣơng Mỹ Dung, sinh năm 1983 tại Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định pháp luật. VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: bổ sung. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. tố, các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; các tài liệu, chứng cứ do các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. cơ quan, tổ chức”. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. 4. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: đổi, bổ sung năm 2017);Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; giam thi hành án. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. 5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. 6. Bị cáo không thuộc trƣờng hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. 8. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không có. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. 9. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo. Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất. Nghị án kết thúc vào hồi …… giờ …… ngày …… tháng …… năm 2020; nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Kiệt CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Bà Trần Ngọc Phƣơng. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2020/TLST- HS ngày 15 Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,QUYẾT ĐỊNH CÁC 1. Vụ án không thuộc trƣờng hợp tạm đình chỉ hoặc trƣờng hợp trả hồ sơ điều tra 2. Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy 3. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Mỹ Dung phạm tội “Làm giả tài liệu của - Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa Xử phạt bị cáo Dƣơng Mỹ Dung 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 7. Các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến Biên bản nghị án đã đƣợc đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |