- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn M - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh s; Điều 123 Bộ luật H nh s; Điều 355 Bộ luật Tố tụng h nh s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 315/2022/HS-PT Ngày: 12-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Trường
Ông Phạm Tồn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quang Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức D - Kiểm sát viên.
Ngày 12-8- 2022, tại điểm cầu Trung tâm từ trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng với điểm cầu Thành phần tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum. Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng t ph c th m c ng khai vụ án h nh s thụ lý số 289/2021/TLPT-HS ngày 12-7-2022 đối với bị cáo Lê Văn M, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án h nh s sơ th m số 19/2022/HS-ST ngày 09-6-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Bị cáo kháng cáo:
Lê Văn M, sinh năm 1958 tại Quảng Nam; nơi đăng ký HKTT: tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: tỉnh Kon Tum; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; tr nh độ văn hóa: 8/10; nghề nghiệp: Bu n bán; con ng Lê K và bà Nguy n Thị K (đều đ ch t ; v là Huỳnh Thị S (đ ch t ; sống chung như v chồng với bà Trần Thị M L; bị cáo có 07 con (lớn nhất sinh năm 1984, nh nhất sinh năm 2004); tiền án, tiền s : Kh ng.
Bị cáo bị b t ngày 18-12-2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C ng an tỉnh Kon Tum, có mặt tại điểm cầu Thành phần, trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:
Bị hại: Bà Trần Thị M L, sinh năm 1973; địa chỉ cư tr : tỉnh Kon Tum, v ng mặt.
Người bào chữa của bị cáo: Luật sư Hoàng Minh T - Văn phòng Luật sư M, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kon Tum, có mặt tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, có mặt tại điểm cầu Thành phần, trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 23-10-2021, Lê Văn M đi đ n P, huyện N, tỉnh Kon Tum để mua bò. Sau khi mua bò, M ở lại P uống rư u cùng một số người khác. Đ n khoảng 18 giờ 30 ph t cùng ngày th về nhà tại huyện N, tỉnh Kon Tum. L c này, bà L (chung sống với M như v chồng cũng vừa về nhà. Khi gặp bà L, M h i bà L đi đâu về, bà L nói “Ở ch về chứ đi đâu” rồi bà L đi uống dưới nhà nấu cơm, t m r a, còn M đi lên phòng khách phía trước ngồi em ti vi. Sau khi nấu cơm ong, bà L vào phòng ngủ của con gái là Lê Thị M D (sinh ngày 10-3-2004 nằm em điện thoại, chị D cũng đang nằm trên giường. L c này, M cũng vào phòng nằm cạnh bà L, thấy bà L nằm bấm điện thoại, M h i: “Mày nh n tin nói chuyện với thằng nào đấy?”, bà L trả lời: “Kh ng có ai cả, có thằng nào mà nh n”. Do kh ng tin lời bà L, nên giữa hai bên ảy ra c i v . M nói: “Đ.m mày, muốn ch t kh ng tao th c ch t bây giờ”, bà L nói: “Con cái lớn h t rồi, nói chuyện cho đàng hoàng kh ng nó cười cho”. M ngồi dậy đi ra ngoài, th bà L cũng dậy đi vào phòng b p để ăn cơm. Mười đi đ n kệ b p lấy một con dao bầu và cầm dao đi lên phòng ngủ của con gái để t m bà L. Bà L nh n thấy M cầm dao, th lo s nên đi hướng lên nhà trên và ngoảnh mặt lại để quan sát, M cầm dao đi về phía bà L. Khi M đ n gần, bà L quay người lại đứng đối diện với M, th M cầm dao bằng tay phải, mũi dao hướng về phía trước đâm thẳng vào vùng bụng (khu v c sườn bên trái) của bà L một nhát. Do bị đâm, bà L h lên: “Ba mày đâm m ”, với mục đích để cho con là Lê nh D và Lê Thị M D bi t. Nghe ti ng h t của bà L, anh D chạy đ n phòng b p, th thấy bà L đang m bụng, còn Mười đang cầm dao đứng đối diện bà L. Anh D vật ng M ng uống nền nhà và giật con dao n m ra c a. L c này, M nói: “M mày ch t rồi th tao cũng ch t lu n”. Bà L chạy ra ngoài, th đư c con rể và con gái chở đi Bệnh viện đa khoa khu v c N để cấp cứu, sau đó đư c chuyển đ n Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum để điều trị v t thương.
Tại Bản k t luận giám định pháp y về thương tích số 153/TgT-TTPY ngày 25-11-2021 và C ng văn số 65/VC-TTPY ngày 24-3-2022, Trung tâm Pháp y tr c thuộc Sở Y t tỉnh Kon Tum k t luận:
“S o vùng hố chậu phải kích thước nh : 01%; s o vùng hố chậu trái kích thước trung b nh: 02%; s o đường tr ng giữa bụng kích thước lớn: 03%; thủng đại tràng uống 02 lỗ đ
trí phẫu thuật: 43%.
Căn cứ Bản tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Th ng tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y t : Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể thời điểm giám định là 46,35% làm tròn 46%”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2022/HS-ST ngày 09-6-2022, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum quyết định:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật H nh s , phạt:
Lê Văn M 14 (mười bốn năm tù về tội “Gi t người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 18-12-2021.
Ngoài ra, bản án sơ th m còn quy t định về phần lý vật chứng, án phí và th ng báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22-6-2022, bị cáo Lê Văn M kháng cáo cho rằng kh ng phạm tội “Gi t người”, mà chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Sau khi t sơ th m, bị cáo Lê Văn M kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo của bị cáo là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng h nh s , do đó Hội đồng t quy t định đưa vụ án ra t ph c th m.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn M giữ nguyên kháng cáo về phần tội danh, bị cáo kh ng đồng ý với bản án sơ th m đ k t án bị cáo về tội “Gi t người”, mà hành vi của bị cáo chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị đư c giảm h nh phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng t
ph c th m căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng h nh s : Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quy t định của bản án sơ th m.
Tại phần tranh tụng, Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng t
ph c th m em t về tội danh, nguyên nhân dẫn đ n hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo để giảm h nh phạt cho bị cáo.
Nói lời sau cùng, bị cáo cho rằng m nh chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị giảm h nh phạt.
. X t kháng cáo của bị cáo:
. Về tội danh:
Chiều tối ngày 23-10-2021, sau khi uống rư u Lê Văn M về nhà nằm nghỉ. Trong l c nằm cùng bà Trần Thị M L (là người chung sống với bị cáo như v chồng), cho rằng bà L nh n tin với người đàn ng khác, bị cáo nảy sinh ghen tu ng v cớ. Trong l c hai bên c i v , bị cáo nói: “Đ.m mày, muốn ch t kh ng tao th c ch t bây giờ”. Như vậy, ngay từ ban đầu, bị cáo đ có ý thức muốn tước đoạt tính mạng của bị hại, bởi lẽ: sau khi đe doạ, bị cáo đ uống b p lấy dao (là hung khí nguy hiểm) đâm vào vùng tr ng y u của cơ thể (vùng bụng của bị hại và ngay sau đó con trai bị cáo là anh Lê nh D khống ch , tước dao kh i tay; hậu quả, bị hại kh ng ch t mà chỉ bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 46,35% (làm tròn 46%) là đư c người khác ngăn chặn kịp thời và nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo.
Hành vi phạm tội như nêu trên của Lê Văn M đ đủ y u tố cấu thành tội “Gi t người” với lỗi cố ý gián ti p. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum k t án bị cáo về tội “Gi t người”, với t nh ti t định khung “Phạm tội có tính chất c n đồ” đư c quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật H nh s là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội và kh ng oan.
. Về h nh phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho hội, tr c ti p âm phạm đ n tính mạng, sức khoẻ của người khác, gây mất trật t trị an địa phương và gây dư luận ấu trong nhân dân. Do đó, cần phải phạt bị cáo h nh phạt nghiêm kh c, nhưng do bị cáo có nhiều t nh ti t giảm nh trách nhiệm h nh s như thành kh n khai nhận hành vi phạm tội của m nh, việc bị cáo kh ng thừa nhận hành vi gi t người là do nhận thức của bị cáo; sau khi phạm tội t nguyện bồi thường thiệt hại; gia đ nh bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và bị cáo phạm tội thuộc trường h p chưa đạt, nên Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum phạt bị cáo 14 năm tù là thể hiện chính sách nhân dạo của pháp luật.
Bị cáo kháng cáo in giảm h nh phạt, nhưng tại phiên toà ph c th m bị cáo kh ng cung cấp đư c tài liệu, chứng cứ để chứng minh có thêm t nh ti t giảm nh trách nhiệm h nh s mới; đồng thời, hành vi phạm tội của bị cáo “Có tính chất c n đồ”, phạm tội thuộc trường h p đặc biệt nghiêm tr ng, th việc cách ly bị cáo ra kh i hội một thời gian dài là điều cần thi t; có như vậy, mới đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, cũng như ngăn chặn và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Do đó, Hội đồng t ph c th m kh ng giảm h nh phạt cho bị cáo.
Như vậy, kháng cáo của bị cáo đ đư c Hội đồng t ph c th m em t, nhưng kh ng có cơ sở chấp nhận.
. Các quy t định khác của bản án sơ th m kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng t ph c th m kh ng xem t.
. Về án phí: Do kháng cáo kh ng đư c chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí h nh s ph c th m theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng h nh s .
- Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn M.
- Giữ nguyên Bản án h nh s sơ th m số 19/2022/HS-ST ngày 09-6-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
2. Về trách nhiệm h nh s :
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật H nh s , phạt:
Lê Văn M 14 (mười bốn năm tù về tội “Gi t người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 18-12-2021.
3. Các quy t định khác của bản án sơ th m kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu l c pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí h nh s ph c th m:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Lê Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngh n đồng) án phí h nh s ph c th m.
5. Bản án ph c th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - TANDTC - Vụ I; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Cơ quan CSĐT C ng an tỉnh Kon Tum; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - Cục TH dân s tỉnh Kon Tum; - Trại tạm giam C tỉnh Kon Tum; (02 bản, để giao cho bị cáo 01 bản ; - Lưu: H/sơ vụ án, các Phòng HCTP, LTHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Việt Cường |