vanban.org

Bản án 315/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 26/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tống Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tống Xuân T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2020. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tống Xuân T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Xuân T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tống Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN D
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 315/2020/HS-ST
Ngày: 26-10-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN D THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân D:

Bà Trịnh Thị Lan.

Ông Lê Quang Bảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân D thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân D thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân D thành phố N, tỉnh Nam Định. Toà án nhân D thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 300/2020/TLST-HS ngày 02-10-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2020/QĐXXST-HS ngày 12-10-2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tống Xuân T, sinh năm 1977 tại tỉnh Nam Định; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số nhà 50/16 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; D tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Xuân T và bà Phạm Thị L; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 26-9-2012 Tòa án nhân D thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31-7-2014 Tòa án nhân D huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 13-12-2016 Tòa án nhân D thành phố Ninh Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22-01-1997 Tòa án nhân D tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công D”. Ngày 07-01-1999 Tòa án nhân D thành phố N xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công D”. Ngày 05-3-2003 Tòa án nhân D thành phố N xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16-02-2006 Tòa án nhân D thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16-02-2009 Tòa án nhân D thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 8 năm 2020 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Trần Văn D, sinh năm: 1982; trú tại: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 02-8-2020 Tống Xuân T điều khiển xe máy biển kiểm soát 4692 đi lang thang quanh các tuyến phố mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày T đến khu vực số nhà 451 đường K thì phát hiện cổng mở, T dựng xe máy ở lòng đường trước cửa khu trọ rồi đi bộ vào bên trong. Khi đến phòng trọ thứ 2 (tính từ cổng vào) thì thấy mở cửa, T nhìn vào trong thấy anh Trần Văn D đang ngủ, chiếc điện thoại Oppo A71 màu hồng đang bật nhạc để ở đầu giường. T tiến vào lấy chiếc điện thoại, tắt nhạc và quay ra ngoài tẩu thoát thì bị anh D tỉnh dậy phát hiện hô hoán đuổi theo. Khi chạy đến trước cửa phòng trọ thứ nhất thì T vất lại chiếc điện thoại rồi chạy ra xe để tẩu thoát, anh D vừa đuổi theo vừa tri hô, đến trước số nhà 420 đường K thì T bị ngã xe rồi bị quần chúng nhân D bắt giữ. Sau đó lực lượng Công an phường L đến đưa T cùng vật chứng là chiếc điện thoại Oppo A71 về trụ sở lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của T chiếc xe máy biển kiểm soát 4692.

Tại Công an phường L và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, T khai nhận toàn hành vi của mình như trên.

Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố N xác định một chiếc điện thoại Oppo A71 thu giữ có trị giá 760.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc điện thoại cho anh Trần Văn D, anh D nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác.

Bản Cáo trạng số 296/CT-VKSTPNĐ ngày 01-10-2020 của Viện kiểm sát nhân D thành phố N truy tố bị cáo Tống Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Tống Xuân T xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân D thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tống Xuân T theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Tống Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Tống Xuân T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Tống Xuân T có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như đơn trình báo và lời khai của bị hại, biên bản thu giữ vật chứng; sơ đồ hiện trường; lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 14 giờ 15 phút ngày 02-8-2020, Tống Xuân T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần Văn D một chiếc điện thoại Oppo A71 có trị giá 760.000 đồng tại khu vực số nhà 451 đường K, phường L, thành phố N. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố N; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công D được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại để cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị 760.000 đồng nhưng bị cáo có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội nay của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm D sự: Anh Trần Văn D đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 4692 thu giữ của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự: Bị cáo Tống Xuân T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Tống Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Tống Xuân T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2020.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tống Xuân T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Tống Xuân T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Văn D được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án D sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án D sự./.

Cỡ chữ