- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường"
- Tòa quyết gì? Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 68/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 315/2020/DS-PT Ngày 28-12-2020 V/v tranh chấp giao dịch dân sự về hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Trung
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Bình Dư ng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung - i m sát viên.
Ngày 28/12/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 344/2020/TLPT-DS ngày 13/11/2020 về việc “tranh chấp giao dịch dân sự về hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 313/2020/QĐ-PT ngày 19/11/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mai P, sinh năm 1971; địa chỉ: 190A/5B, đường A, khu phố B3, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 15A, đường H, khu phố 2, phường 2, thị xã K, tỉnh Long An; tạm trú: Số 95/10, đường Lê Hồng P, khu phố 5, phường P1, thành phố T, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền ngày 11/6/2020).
- Bị đơn:
1. Ông Võ Văn N, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 130, đường Võ Thị S, khu phố TA, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
2. Bà Nguyễn Thị Kim L (tên gọi khác NE), sinh năm 1967; địa chỉ: 82B/21, khu phố N1, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
3. Ông Phan Văn B1, sinh năm 1980; địa chỉ: 1423/11B, khu phố Đ, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1965; địa chỉ: 83B/21, khu phố N1, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Văn B1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2020 lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị Mai P là ông Nguyễn Hữu L trình bày:
Vào năm 2017, bà Trần Thị Mai P tham gia chơi 01 trong 03 dây hụi do bà Nguyễn Thị Kim L (NE) làm chủ hụi (bà P chơi dây 1). Dây hụi bà P chơi có 15 người tham gia và với 21 phần, đóng hụi là 20.000.000 đồng/tháng/phần, bà P tham gia 01 phần. Theo thỏa thuận, dây hụi khui mỗi tháng 01 lần, thành viên nào bỏ lãi cao thì được hốt hụi, chủ hụi được hưởng hoa hồng, người hốt hụi sẽ thanh toán tiền hoa hồng cho chủ hụi. Bà Nguyễn Thị Kim L (NE) vừa làm chủ hụi vừa tham gia với tư cách thành viên. Dây hụi trên thì ông Võ Văn N chơi 02 phần; bà Nguyễn Thị Kim L (NE) chơi 1 phần và ông Phan Văn B1 chơi 01 phần. Bà P đã đóng 3 kỳ liên tiếp với tổng số tiền: 03 kỳ x 20.000.000 đồng/dây = 60.000.000 đồng. Dây hụi trên đã khui được 03 kỳ, cụ th :
Kỳ 1 khui ngày 15/6/2017, bỏ lãi 3.000.000 đồng/phần; có 02 phần thành viên không đóng. Bà Nguyễn Thị Kim L (NE) hốt số tiền 306.000.000 đồng.
Kỳ 1 khui ngày 14/7/2017, bỏ lãi 5.200.000 đồng/phần; có 02 phần thành viên không đóng. Ông Võ Văn N hốt số tiền 284.666.000 đồng.
Kỳ 1 khui ngày 18/8/2017: Bỏ lãi 4.500.000 đồng/phần; có 02 phần thành viên không đóng. Ông Phan Văn B1 hốt số tiền 319.000.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền mà các bị đơn hốt hụi có tiền của bà P đóng vào và hưởng lãi của hụi như sau: Ông N: Hốt hụi 284.666.000 đồng trong đó có tiền của bà P là 20.000.000 đồng; bà L (NE): Hốt hụi 306.000.000 đồng trong đó có tiền của bà P là 20.000.000 đồng; ông B1: Hốt hụi 319.000.000 đồng trong đó có tiền của bà P là 20.000.000 đồng.
Tuy nhiên sau khi hụi khui được 03 kỳ, Ông N, bà L (NE) và ông B1 là những người đã hốt hụi trước không chịu đóng lại phần hụi theo thỏa thuận đ những thành viên khác chưa hốt trong đó có bà P được quyền hốt trong các kỳ tiếp theo. Bà L (NE) là chủ hụi cũng không điều hành tiếp tục duy trì hoạt động dây hụi cũng nhưng không có thỏa thuận nào giữa các thành viên đối với chủ hụi trong việc thực hiện trách nhiệm đóng hụi thay cho thành viên khi các thành viên không đóng. Sau 03 kỳ khui hụi, dây hụi không tiếp tục hoạt động từ tháng 9/2017 cho đến nay. Do đó việc không đóng hụi của các thành viên đã hốt hụi đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà P. Năm 2018, bà P có yêu cầu các bị đơn hoàn trả hụi đã hốt thì được hoàn trả một phần trong đó: Ông N hoàn trả 15.039.832 đồng; bà L (NE) hoàn trả 2.259.007 đồng; Ông B1 hoàn trả: 11.077.392 đồng. Số tiền hụi các bị đơn còn nợ bà P cụ th : Ông N còn nợ 4.960.168 đồng. Bà L (NE) còn nợ 17.740.993 đồng. Ông B1 còn nợ 8.922.608 đồng. Do các bị đơn đã hốt hụi nhưng không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi như thỏa thuận ban đầu đã làm ảnh hưởng đến bà P, bà P đã nhiều lần yêu cầu trả nhưng các bị đơn cố tình không trả.
Quá trình tố tụng, bà P yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Buộc ông Võ Văn N hoàn trả 4.960.168 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 1.341.947 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020 (974 ngày), lãi suất 10%/năm với tổng số tiền: 6.302.116 đồng.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Kim L (NE) hoàn trả 17.740.993 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 4.799.732 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020 (974 ngày), lãi suất 10%/năm với tổng số tiền: 22.540.725 đồng.
+ Buộc ông Phan Văn B1 hoàn trả 8.922.608 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 2.413.965 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020 (974 ngày), lãi suất 10%/năm với tổng số tiền: 11.336.572 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút 01 phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bà P chỉ yêu cầu các bị đơn trả số tiền hụi còn nợ cụ th đối với từng bị đơn như sau:
+ Buộc ông Võ Văn N hoàn trả 4.960.168 đồng tiền nợ hụi.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Kim L (NE) hoàn trả 17.740.993 đồng tiền nợ hụi.
+ Buộc ông Phan Văn B1 hoàn trả 8.922.608 đồng tiền nợ hụi.
Tại bản tự khai ngày 02/7/2020 lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Văn N trình bày: Ông Võ Văn N có quen biết do làm ăn chung với bà Nguyễn Thị Kim N, còn bà Nguyễn Thị Kim L chỉ biết là em gái của bà N. Bà Trần Thị Mai P cùng tham gia chơi hụi với Ông N. Khoảng tháng 4, tháng 5/2017, bà N có rủ Ông N chơi hụi cùng với những người bạn, trong đó có 01 số người mà Ông N quen biết. Đến tháng 6/2017 bắt đầu chính thức chơi và khui hụi. Tất cả có 03 dây hụi, mỗi dây có 21 phần. Ông N tham gia 03 dây, mỗi dây 02 phần, tổng cộng 06 phần. Chủ hụi là bà N với các lý do: Bà N là người trực tiếp vận động Ông N và những người khác tổ chức chơi hụi; thu tiền hụi của các hụi viên; hướng dẫn cách thức điều hành dây hụi cho bà L (do bà L không biết cách thức điều hành dây hụi như thế nào, bà L cũng không kêu gọi, gợi ý các anh chị em tham gia chơi hụi; không nhận tiền đóng hụi từ các hụi viên, không nhận tiền hoa hồng từ Ông N) nhằm tạo điều kiện cho bà L có thu nhập; khi Ông N hốt hụi thì tiền hoa hồng bà N là người giữ lại. Do đó, Ông N khẳng định bà N là chủ hụi, còn bà L chỉ là người chứng kiến, phụ giúp cho bà N. Trong 3 dây hụi trên, Ông N đã hốt 04 phần cụ th : Dây 02: Khui ngày 15/6/2017, hốt 01 phần (bỏ lãi 3.000.000 đồng), mỗi phần 20.000.000 đồng/hụi viên, sau khi trừ lãi thì mỗi người đóng là 17.000.000đồng, Ông N hốt được 323.000.000 đồng, Ông N đã đóng tiền hoa hồng cho bà N là 10.000.000đồng. Ngày 14/7/2017 khui hết 03 dây, Ông N hốt hết 03 phần (bỏ lãi 5.200.000 đồng), mỗi hụi viên đóng là 14.800.000 đồng, Ông N hốt được tổng 854.000.000 đồng, Ông N đóng tiền hoa hồng cho bà N 30.000.000đồng. Số tiền hoa hồng trên bà N là người giữ, còn bà N chia cho ai thì Ông không biết. Tổng cộng số tiền Ông N hốt 04 phần 1.177.000.000 đồng bà N chỉ đưa cho Ông N tiền hụi của kỳ đầu tiên còn các kỳ sau thì bà N không đưa lại cho Ông N mà giữ lại đồng thời ông đưa thêm cho bà N 23.000.000 đồng tổng là 1.200.000.000 đồng đ bà N mua cổ phần F cho ông. Số tiền này hiện nay đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương xác định là số tiền bà N lừa đảo chiếm đoạt của Ông N và ông là bị hại trong vụ án khởi tố đó. Từ tháng 9/2017, các dây hụi trên không hoạt động nữa, do việc mua cổ phần F là không có thật, sau đó bà N bị cơ quan điều tra truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, ông Võ Văn N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu trả tiền hụi, Ông N không đồng ý trả cho bà P mà trách nhiệm hoàn toàn thuộc về bà N.
Tại bản tự khai ngày 03/7/2020, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Phan Văn B1 trình bày: Ông B1 có tham gia chơi 02 trong 03 dây hụi như nguyên đơn trình bày. Ba dây hụi trên là do bà Nguyễn Thị Kim N làm chủ, những người chơi hụi là những người tham gia mua cổ phần F. Sau khi phát hiện việc mua cổ phần F là không có thật thì bà N đã đồng ý bán tài sản của bà N đ trả lại tiền cho những người mua cổ phần F và những người này ép những người đã hốt hụi trả tiền cho những người chưa hốt hụi. Trong số tiền mà ông B1 được bà N trả thì có 01 phần bị giữ lại đ chia cho những người chưa hốt hụi, bà N là chủ hụi nên bà N phải có trách nhiệm đối với những người chơi hụi, do bà N bị bắt giam nên ông B1 đã có thiện chí trả 01 phần tiền hụi cho những người chưa hốt hụi. Vì vậy, ông B1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà P về việc yêu cầu trả tiền hụi còn nợ, ông B1 xác định cả ông B1 và bà N cùng có trách nhiệm trả cho bà P tiền hụi và khi nào ông B1 được thi hành phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự đối với bà N thì ông B1 mới trả tiền hụi lại cho bà P và ông B1 chỉ trả tiền cho bà P theo tỷ lệ tài sản mà ông B1 được chia trong bản án hình sự.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/6/2020 trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim L là em gái ruột của bà Nguyễn Thị Kim N (thường gọi là NC), mọi người thường gọi bà L là NE. Khoảng tháng 5, tháng 6/2017, bà N cùng với nhóm bạn trong tập th mua cổ phần F có lập 03 dây hụi, mỗi dây tham gia chơi là 20.000.000đồng/01 phần. Do không có điều kiện đ mua cổ phần của F nên bà N cùng với nhóm bạn cùng đề cử bà L làm chủ hụi đ được hưởng tiền hoa hồng. Bà L làm chủ hụi cả 03 dây hụi đồng thời tham gia với tư cách người chơi hụi 02 dây là dây 01 và dây 02, việc bà L làm chủ hụi chỉ trên hình thức và nhận tiền hoa hồng của mỗi kỳ. Đến kỳ đóng tiền thì các hụi viên đóng cho bà L nhưng ngay sau khi các hụi viên đóng tiền thì bà L chuy n luôn số tiền mà các hụi viên đã đóng cho hụi viên hốt hụi của kỳ đó. Còn việc bà L tham gia chơi hụi là do bà N đóng tiền và bà N cũng là người hốt hụi phần của bà L, số tiền bao nhiêu thì bà L cũng không biết (vì bà L không được nhận) và bà N sử dụng luôn số tiền này. Nay bà Trần Thị Mai P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L trả tiền nợ hụi. Bà L khẳng định không hốt hụi của các hụi viên mà do bà N hốt phần hụi của bà L nên bà N phải có trách nhiệm trả cho bà P số tiền hụi trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai ngày 14/8/2020 trình bày: Bà Trần Thị Mai P tham gia chơi 01 dây hụi (dây thứ 1) 01 phần. Bà N tham gia chơi 03 dây trong đó dây 01, dây 02 bà N tham gia 02 phần, còn dây 03 bà N tham gia 03 phần, tổng số tiền mỗi tháng bà N đóng là 140.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim L là chủ hụi 03 dây hụi trên. Khi khui hụi, các hụi viên đề cử bà N làm chủ hụi nhưng bà N không đồng ý, bà N có đề cử bà L làm chủ, các hụi viên cũng đồng ý và các hụi viên thống nhất chi cho bà L mỗi tháng 10.000.000 đồng đ bà L đứng ra thu tiền hụi nhưng thực tế việc thu tiền hụi là do một số hụi viên thu về và đưa cho bà N. Sở dĩ mọi người đồng ý chi cho bà L mỗi tháng 10.000.000 đồng là do trước kia bà N đã từng giúp đỡ các hụi viên này. Sau khi thu tiền hụi thì bà N có giao tiền lại cho hụi viên được hốt của kỳ hụi đó, nhưng sau đó thì họ lại giao tiền lại cho bà N đ bà N mua cổ phần F, đối với dây hụi trên thì đã khui được 03 kỳ, những hụi viên đã được hốt hụi gồm ông Võ Văn N, ông Phan Văn B1 và bà Nguyễn Thị Kim L. Bà N không chơi hụi thay cho bà L mà bà N cho bà L vay tiền đ mua cổ phần nên bà N hốt tiền hụi của bà L. Nay đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Mai P về vệc yêu cầu ông Võ Văn N và ông Phan Văn B1 trả tiền hụi thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Còn với phần tiền hụi bà P yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L trả thì bà Nguyễn Thị Kim N sẽ có trách nhiệm trả thay cho bà L vì số tiền hụi của bà L do bà N hốt.
Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mai P về việc yêu cầu các bị đơn ông Võ Văn N bồi thường thiệt hại số tiền 1.341.947 đồng (một triệu, ba trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm bốn mươi bảy đồng), bà Nguyễn Thị Kim L bồi thường thiệt hại số tiền 4.799.732 đồng (bốn triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, bảy trăm ba mươi hai đồng) và ông Phan Văn B1 bồi thường thiệt hại số tiền 2.413.965 đồng (hai triệu, bốn trăm mười ba nghìn, chín trăm sáu mươi lăm đồng) do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hụi.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mai P với các bị đơn ông Võ Văn N, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Phan Văn B1 về việc tranh chấp hụi.
Buộc ông Võ Văn N phải thanh toán cho bà Trần Thị Mai P số tiền hụi còn nợ là 4.960.168 đồng (bốn triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, một trăm sáu mươi tám đồng).
Buộc ông Phan Văn B1 phải thanh toán cho bà Trần Thị Mai P số tiền hụi còn nợ là 8.922.608 đồng (tám triệu, chín trăm hai mươi hai nghìn, sáu trăm lẻ tám đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải thanh toán cho bà Trần Thị Mai P số tiền hụi còn nợ là 17.740.993 đồng (mười bảy triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 17/9/2020, bị đơn ông Phan Văn B1 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu tính lãi hụi của nguyên đơn; ông B1 chỉ chấp nhận trả cho nguyên đơn số tiền hụi đã nhận. Bị đơn ông Võ Văn N có nộp đơn kháng cáo nhưng Ông N không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu Lai và bị đơn ông Phan Văn B1 thỏa thuận như sau:
Ông Phan Văn B1 trả thêm cho bà Trần Thị Mai P số tiền hụi (tính gốc) 4.422.608 đồng.
Án phí và các chi phí tố tụng: Các đương sự đề nghị Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát bi u ý kiến:
Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận giữa các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn bà Trần Thị Mai P và bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L không kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm; bị đơn ông Võ Văn N nộp đơn kháng cáo nhưng không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được coi như đã từ bỏ việc kháng cáo. Do đó, quyết định của bản án sơ thẩm liên quan đến quyền lợi của bà Trần Thị Mai P, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Võ Văn N có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 282 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn B1, thấy rằng:
Tại đơn khởi kiện và lời khai của các bên đương sự đều th hiện: Bà Trần Thị Mai P, ông Phan Văn B1 và một số người khác là thành viên góp vốn trong các dây hụi do bà Nguyễn Thị Kim L (hay gọi là NE) làm chủ hụi, mỗi kỳ góp hụi, giao tiền hụi thì chủ hụi được hưởng tiền hoa hồng. Do đó, nếu không có thỏa thuận khác thì bà Trần Thị Mai P (hụi viên) không có quyền khởi kiện ông Phan Văn B1 (hụi viên) đ đòi tiền nợ hụi khi dây hụi bị chấm dứt hoạt động; trong trường hợp này trách nhiệm với các hụi viên là chủ hụi. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ có thỏa thuận giữa bà P và ông B1 hay không?. Bà P có quyền khởi kiện ông B1 hay không? mà thụ lý yêu cầu khởi kiện giữa bà P và ông B1 là chưa đúng bản chất của giao dịch dân sự về hụi.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà P và ông B1 thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận giữa hai bên là không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Tòa án ghi nhận.
Án phí và các chi phí tố tụng khác: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều: 147, 148, 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 68/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
2. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Trần Thị Mai P, ông Phan Văn B1 như sau:
Ông Phan Văn B1 phải trả cho bà Trần Thị Mai P số tiền còn nợ hụi (gốc) còn lại là 4.422.608 đồng (bốn triệu, bốn trăm hai mươi hai nghìn, sáu trăm lẻ tám đồng).
K từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn B1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn B1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0048597 ngày 22/9/2020 của Chi cục T1 thành phố D, tỉnh Bình Dương.
5. Một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 về trách nhiệm trả tiền, án phí sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố D có liên quan đến quyền lợi của bà Trần Thị Mai P, ông Võ Văn N, bà Nguyễn Thị Kim L đã có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
N i nhận:
| - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS TP D; - TAND TP D; - Các đương sự (đ thi hành); - Tổ Hành chính Tư pháp; - Lưu: Hồ sơ, Tòa D1. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đào Minh Đa |