vanban.org

Bản án 315/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 20/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo V Văn T.

Sửa bản án s thẩm. p dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm" theo Điều 191 - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo V Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 315/2019/HS-PT
Ngày: 20 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị V Trinh.

ng Ng T n L i.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: ng Đ Trung Đ n - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm c ng khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 280/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2019 đối v i bị cáo V Văn T, do có kháng cáo c a bị cáo đối v i Bản án hình sự s thẩm số: 80/2019/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2019 c a Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo:

V Văn T, sinh năm 1985 tại Đồng Tháp; N i cư trú: p 1, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; gi i t nh: Nam; t n giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ng V Văn D và bà Trần Thị N (ch t); có v và 02 con (con l n sinh năm 2009 và con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/10/2015 bị Phòng Cảnh sát kinh t C ng an tỉnh Đồng Tháp ra Quy t định số 13/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền 25.000.000 đồng về hành vi vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu, đ n nay chưa nộp phạt; bị bắt, tạm giam: Kh ng; có m t.

Ngoài ra trong vụ án Viện kiểm sát kh ng kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 11/6/2019, V Văn T nhận đư c điện thoại c a một người phụ nữ tên T (kh ng xác định nhân thân và địa chỉ) sinh sống ở Campuchia thuê vận chuyển thuốc lá đi u nhập lậu về thành phố C, tỉnh Đồng Tháp bằng xe m t c a người thuê, chi ph vận chuyển một chuy n là 250.000 đồng thì T đồng ý. Khoảng 15 phút sau, T một mình đi bộ lại gần cầu M, thuộc p 1, xã T, huyện H thì g p chị T, chị T giao xe mô tô, màu xanh, kiểu dáng Wave, biển số xxxx, trên xe có bốn bao nylon màu trắng, bên trong chứa 1.500 bao thuốc đi u lá nhập lậu. Trong đó 750 bao thuốc lá đi u hiệu JET và 750 bao thuốc lá đi u hiệu HERO, khi đó T bi t bên trong là thuốc lá đi u nhập lậu mà chị T đã ch t lên xe từ trư c.

Sau khi nhận xe, T điều khiển xe chở thuốc lá về thành phố C, khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/6/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh t - Ma túy C ng an thành phố C k t h p C ng an xã H đang tuần tra thì phát hiện V Văn T đang điều khiển xe có bốn bao nylon màu trắng. C ng an yêu cầu T dừng xe tại khu đ t trống thuộc tổ x, p H, xã H, thành phố C kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối v i V Văn T v i hành vi vận chuyển hàng c m là thuốc lá đi u nhập lậu và thu giữ, tạm giữ những đồ vật, tài liệu gồm 750 bao thuốc lá đi u hiệu HERO; 750 bao thuốc lá đi u hiệu JET và 01 xe m t loại Wave, màu xanh, biển số xxxx, số khung, số máy đã bị tẩy xóa, xe đã qua sử dụng.

Theo K t luận giám định số x/KL-KTHS ngày 05/7/2019 c a Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Đồng Tháp, k t luận về đối tư ng giám định: Xe lắp ráp, màu s n xanh, kiểu dáng Wave, biển số xxxx gửi đ n giám định có số, ký tự khung trư c và sau giám định kh ng thay đổi VHHDCH094UM xxxxxx; số, ký tự máy sau giám định bị đục phá.

Đối v i xe m t , biển số xxxx ch sở hữu là Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1968; ngụ tổ x, Khóm x, Phường x, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Bà H mua xe và đăng ký lần đầu vào ngày 27/12/2004 là xe màu xám đen, nhãn hiệu Yamaha, biển số xxxx. Do đó xe m t màu xanh, kiểu dáng Wave, biển số xxxx mà T sử dụng vào việc phạm tội là biển số giả đư c lắp vào xe; số, ký tự khung trư c và sau giám định kh ng thay đổi VHHDCH094UM xxxxxx; số, ký tự máy sau giám định bị đục phá nên C quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C kh ng thể tìm đư c ch sở hữu.

Đối v i người tên T (không xác định nhân thân và địa chỉ cụ thể) nên C quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C đã tách ra để điều tra xử lý sau.

Ngoài ra, V Văn T còn khai nhận đã thực hiện hành vi vận chuyển hàng c m thuốc lá đi u nhập lậu cho chị T đư c 04 lần trư c đó nhưng chỉ có duy nh t lời nhận tội c a bị cáo nên chưa đ căn cứ xác định T phạm tội nhiều lần.

Trong quá trình điều tra, V Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình, lời tự khai nhận tội c a bị cáo phù h p v i lời khai người chứng ki n, phù h p v i biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ.

Tại bản án hình sự s thẩm số 80/2019/HS-ST ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đã quy t định:

- Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng c m”.

p dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo V Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù đư c t nh kể từ ngày bị cáo ch p hành án.

Ngoài ra bản án s thẩm còn tuyên về vật chứng, về án ph và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 29/9/2019, bị cáo V Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm cho bị cáo đư c hưởng án treo (trong vòng 12 tháng).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo V Văn T trình bày là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cần tiền tiêu xài cá nhân và lo cho gia đình, nên ngày 11/6/2019 bị cáo T có vận chuyển hàng c m là thuốc lá đi u nhập lậu và đ n khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/6/2019 bị C ng an thành phố C phát hiện, yêu cầu bị cáo dừng xe tại khu đ t trống thuộc tổ x, p H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối v i bị cáo về hành vi vận chuyển hàng c m là thuốc lá đi u nhập lậu và thu giữ, tạm giữ những đồ vật, tài liệu gồm 750 bao thuốc lá đi u hiệu HERO; 750 bao thuốc lá đi u hiệu JET và 01 xe m t loại Wave, màu xanh, biển số xxxx như bản án s thẩm đã xét xử đối v i bị cáo. Bị cáo T nhận tội, kh ng tranh luận v i đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo T thay đổi, bổ sung kháng cáo, bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và cung c p xác nhận c a y ban nhân dân xã T về việc bị cáo T thuộc hộ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, kh ng đ t canh tác, nghề nghiệp kh ng ổn định, phải nu i 02 con nhỏ và cha ruột thường xuyên đau ốm do bệnh nan y; bị cáo là quân nhân xu t ng năm 2006, cha bị cáo đang làm việc tại Hội Cựu chi n binh xã T và đư c Hội Cựu chi n binh huyện H t ng gi y khen, đư c Hội Cựu chi n binh Việt Nam t ng k niệm chư ng, nên xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm về việc giải quy t vụ án: Tòa án c p s thẩm tuyên bố bị cáo V Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng c m” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Xét mức án 01 tù mà Tòa án c p s thẩm đã xử phạt bị cáo T là phù h p. Bị cáo T kháng cáo xin giảm hình phạt và có nộp xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là quân nhân xu t ng , cha bị cáo c ng từng tham gia quân đội, nên yêu cầu kháng cáo c a bị cáo T là có căn cứ ch p nhận. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo V Văn T, sửa bản án s thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo T từ 03 đ n 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo V Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a bị cáo. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù h p v i lời khai c a bị cáo tại c quan điều tra, phiên tòa s thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ s vụ án, đ s sở xác định bản án hình sự s thẩm số: 80/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đã tuyên bố bị cáo V Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng c m” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Hành vi phạm tội c a bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh t , mà cụ thể xâm phạm trong lĩnh vực sản xu t, kinh doanh, thư ng mại. Bị cáo T là người thành niên, đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định c a pháp luật. Lẽ ra bị cáo phải t ch cực lao động chân ch nh để tạo thu nhập h p pháp nu i sống bản thân và có điều kiện phát triển kinh t gia đình. Tuy nhiên bị cáo đã kh ng thực hiện, để có tiền tiêu xài bị cáo đã thực hiện hành vi vận chuyển hàng c m là thuốc lá đi u nhập lậu số lư ng 1500 bao và đã bị bắt quả tang. Bị cáo nhận thức đư c hành vi vận chuyển hàng c m là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện việc bị cáo xem thường pháp luật. Do đó phải có mức hình phạt tư ng xứng v i hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm giáo dục bị cáo trở thành c ng dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi lư ng hình phạt, Tòa án c p s thẩm đã xem xét các tình ti t phạm tội lần đầu và thuộc trường h p t nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù h p.

Bị cáo T kháng cáo xin giảm hình phạt và có cung c p xác nhận ch nh quyền địa phư ng về việc bị cáo thuộc hộ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, kh ng đ t canh tác, nghề nghiệp kh ng ổn định, phải nu i 02 con nhỏ và cha ruột thường xuyên đau ốm do bệnh nan y; bị cáo là quân nhân xu t ng năm 2006, cha bị cáo đang làm việc tại Hội Cựu chi n binh xã T và đư c Hội Cựu chi n binh huyện H t ng gi y khen, đư c Hội Cựu chi n binh Việt Nam t ng k niệm chư ng. Đây là tình ti t m i tại Tòa án c p phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm hình phạt cho bị cáo T là phù h p.

Ngày 30/10/2015 bị cáo T bị Phòng Cảnh sát kinh t C ng an tỉnh Đồng Tháp Quy t định xử phạt vi phạm hành ch nh số tiền 25.000.000 đồng về hành vi vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu và đ n nay bị cáo chưa nộp phạt. Nhưng lần này bị cáo T vận chuyển hàng c m là thuốc lá đi u nhập lậu số lư ng 1500 bao, đ y u tố c u thành tội phạm “Vận chuyển hàng c m” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự, hình phạt tù quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự từ 06 tháng đ n 03 năm, bị cáo có hai tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên việc Tòa án c p s thẩm xử phạt bị cáo T 01 năm tù là có phần nghiêm khắc so v i t nh ch t, mức độ, hậu quả c a hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo. Nên kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo T là có căn cứ, đư c Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận.

Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nh t v i quan điểm, đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo V Văn T, sửa bản án s thẩm.

Các phần khác c a bản án s thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo c a bị cáo T đư c ch p nhận, nên bị cáo T kh ng phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo V Văn T.

Sửa bản án s thẩm.

p dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo V Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng c m”.

Xử phạt: Bị cáo V Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù đư c t nh kể từ ngày bị cáo ch p hành án.

Về án ph : Bị cáo V Văn T kh ng phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

Các phần khác c a bản án s thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ