- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 342/2018/HSST ngày 03/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo thủ tục chung.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 315/2019/HS-PT Ngày: 11- 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Phan Đức Phương
Ông Vũ Ngọc Huynh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 653/2018/TLPT - HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn P; do có kháng cáo của bị cáo, đại diện bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 342/2018/HSST ngày 3 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn P (tên gọi khác: không có); giới tính: nam; sinh ngày: 01/01/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: A đường T, khu phố C, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng số A, nhà trọ số V, tổ C, khu phố A, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn U - sinh năm 1958 và bà Huỳnh Thị Út L - sinh năm 1959; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 03/8/2017 (có mặt);
- Bị hại: Anh Chu Anh C (đã chết);
Đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Chu Cao T (là cha ruột bị hại) - sinh năm: 1954 và bà Đặng Thị Hòa (là mẹ ruột bị hại) - sinh năm: 1967;
Cùng trú tại: Xóm A, thôn H, xã M, huyện C, tỉnh Hưng Yên (cùng ủy quyền cho bà Võ Thị X);
+ Bà Võ Thị X (là vợ bị hại) - sinh năm: 1989;
Trú tại: A, Tổ B, khu phố C, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Hữu T, sinh năm: 1991;
Trú tại: A, tổ C, khu phố D, phường Trung T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Anh C và Đặng Hữu T là hàng xóm và ở nhà liền kề nhau trên đường TMT 13, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tâỵ, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng tháng 6/2017, C từng phơi quần áo gần sạp bán rau của T. Đến tháng 7/2017, C từng tổ chức uống rượu, bia và hát karaoke trong nhiều ngày gây ồn ào nên T có nhắc nhở C dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi vả nhau.
Khoảng 19 giờ, ngày 02/8/2017, T đang ngồi ăn cơm tại nhà 419 Bis 13, đường TMT 13, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12 thì có chị Nguyễn Thị M (là hàng xóm của T) sang nhà chơi và nói cho T biết C có gọi điện thoại và chuẩn bị đồ để đánh T. Sau đó, T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn P đến nhà T để nhờ công việc. Lúc này, P cùng với Nguyễn Hoài Đ, Nguyễn Thành Đ đang trên đường đi về nhà nên P kêu Đ chở P và Đ đến nhà T.
Khi đến nơi, Đ và Đ đứng bên ngoài, P đi vào sân nhà của T đứng nói chuyện và T kể cho P nghe việc C kêu người đánh T, P nói sẽ cùng T qua gặp C nói chuyện. Khi T và P đi qua trước cửa nhà C thì C từ trong nhà chạy ra, tay phải cầm 01 cây sắt dài khoảng 103 cm, đánh trúng vào gáy bên trái của P. P bỏ chạy, Đ và Đ đang ngồi trên xe liền nổ máy bỏ chạy. C cầm cây sắt đuổi theo P một đoạn khoảng 20 mét thì P dừng lại đánh nhau với C. P dùng tay đánh vào mặt C, C cầm cây sắt đánh trúng mặt C, C cầm cây sắt đánh trúng vào môi P gây chảy máu nên P tiếp tục bỏ chạy. C không đuổi theo mà bỏ đi về, khi đi ngang qua sạp rau của T, C dùng chân đạp phá sạp rau, rồi sau đó đi vào đứng bên trong cửa hàng bán quần áo tại nhà số 419 Bis-44 A, tổ 25, khu phố phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, ngay cạnh sạp rau của nhà T.
Riêng P, khi chạy ngang qua cửa hàng bán đậu hũ của nhà số 419 Bis 24, tổ 25, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12 thì thấy trên tủ bán đậu hũ có để 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, dài khoảng 20 cm, P lấy con dao cầm trên tay phải rồi quay lại hướng nhà T. Thấy C đang đứng trong cửa hàng bán quần áo nên P cầm dao đi vào phía sau cửa hàng và đứng nấp vào các hình mẫu (ma nơ canh). T đứng từ xa nhìn thấy C phá sạp rau của nhà mình nên chạy vào cửa hàng gần đó (T không nhớ chính xác là cửa hàng nào) lấy một cây sắt dùng quay mái hiên di động (dài 212 cm, bằng kim loại, 01 đầu có gắn tay cầm màu đỏ bằng nhựa và 01 đầu có gắn móc), cầm trên tay phải chạy về đánh nhau với C tại trước thềm của hàng bán quần áo, C dùng cây sắt đánh trả lại. P từ phía sau các hình mẫu (ma nơ canh) xông ra dùng dao đâm một nhát trúng vào ngực bên phải của C làm gãy cán dao, lưỡi dao dính trên ngực làm C ngã xuống đất. P bỏ đi ra ngoài, để cán dao trên yên xe gắn máy hiệu Air Blade để trước cửa hàng bán quần áo rồi đi ra chỗ T đang đứng. C đứng dậy cầm cây sắt xông tới định đánh nhau với T nhưng P can ngăn T. Sau đó C bỏ đi vào nhà vệ sinh của cửa hàng bán quần áo thì gục xuống và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quận 12 nhưng C đã chết trước khi nhập viện.
P và T đứng trước cửa hàng bán quần áo và P nói cho T biết đã đâm C 01 nhát, T không nói gì và đi về nhà. Cùng lúc này thì Đ và Đ chạy xe quay lại chở P đến Phòng khám đa khoa tư nhân ở tỉnh Bình Dương, sau đó P ra bến xe về tỉnh Tây Ninh. Đến sáng ngày 08/3/2017, khi nghe tin C đã chết nên P đến Công an Phường 1, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tự thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định pháp y số 720-17/KLGĐ-PY ngày 18/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận về như sau:
“- Trầy rách da nham nhở ở trán phải, kích thước 2 x 1,5 cm. Xuất huyết dưới da, dưới vết trầy rách da ở trán phải, kích thước 2 x 2 cm.
- vết thương phía dưới đoạn 1/3 ngoài xương đồn phải dạng hình bầu dục, bờ mép sắc gọn, kích thước 1,5 x 0,5 cm có một lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, dài khoảng 13,5 cm, bản lưỡi chỗ rộng nhất khoảng 2 cm, làm đứt rời động mạch dưới đòn bên phải và thủng vào khoan ngực phải ngay trên xương sườn 1 bên phải. Chiều hướng vết thương đi từ trước ra sau, từ phải sang trái, từ dưới lên trên. Nguyên nhãn chết do sốc mất máu cấp bởi vết thương đâm đứt động mạch dưới đòn phải; nồng độ cồn trong máu 50,14mg/100ml.
Tại Công văn số 412/CV-PC54 (Đ7) ngày 22/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã giải thích cây sắt dùng quay mái hiên di động mà T đã dùng để đánh nhau với C có thể gây ra được các vết thương cho bị hại Chu Anh C là: “vết rách da nham nhở ở trái phải, kích thước 2 x 1,5 cm gây xuất huyết dưới da, kích thước 2 x 2 cm do vật tày gây có cạnh gây ra”.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 728/TgT.17 ngày 03/10/2017 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận pháp y về thương tích của Nguyễn Văn P như sau:
“- Chấn thương phần mềm tạo một vết sẹo kích thước 1,8 x 0,3 cm tại môi trên bên trái, ảnh hưởng thấm mỹ. Có tỷ lệ 06%.
- Thương tích do vật tày, vật tày có cạnh, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc nhọn gây ra.
- Chấn thương vùng gáy gây sưng bầm vùng gáy trải (theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 03/8/2017), không đi khám thương tích này nên hiện không có dấu vết gì tại vùng cổ, tỷ lệ 0%; có hình ảnh gãy cũ mỏm gai đốt sống cổ 6 khi đến giám định tại Trung tâm pháp y ngày 25/9/2011, tỷ lệ 8%.
Thương tích ở vùng cổ do vật tày tác động gây ra. Không có cơ sở xác định thời điểm bị gãy mỏm gai cổ 6.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 14%. Cây bằng kim loại do Cơ quan điều tra đã cung cấp có thể gây ra được thương tích này”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 342/2018/HSST ngày 3 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”.
Áp dụng khoản 2 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và áp dụng điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/8/2017.
Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 4/10/2018, bị cáo Nguyễn Văn P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ngày 12/11/2018, bị cáo Nguyễn Văn P xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Ngày 15/10/2018, bà Võ Thị X – đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu tăng nặng hình phạt bị cáo Nguyễn Văn P; xem xét việc bỏ lọt tội của ông Đặng Hữu T và yêu cầu tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần và chi phí bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo P đã rút toàn bộ kháng cáo.
- Đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu tăng nặng hình phạt bị cáo Nguyễn Văn P; xem xét việc bỏ lọt tội của ông Đặng Hữu T và yêu cầu tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần và chi phí bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Nguyễn Văn P đã có hành vi dùng dao Thái Lan đâm trúng vùng ngực của bị hại Chu Anh C dẫn đến bị hại C chết trước khi nhập viện do sốc mất máu. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác. Xét thấy, tòa sơ thẩm xử bị cáo khoản 2 là chưa đúng quy định pháp luật.
Đối với kháng cáo cho rằng bỏ lọt tội: Qua phần xét hỏi tại phiên tòa, cùng các chứng cứ có tại hồ sơ có đủ căn cứ xác định Tòa sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm Đặng Hữu T, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh điều tra để làm rõ vai trò đồng phạm “Giết người” của Đặng Hữu T theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo, đại diện bị hại kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự nên vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xin rút toàn bộ kháng cáo. Xét thấy việc rút kháng cáo này là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng, có cơ sở kết luận:
Chỉ vì mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày mà bị hại Chu Anh C, Đặng Hữu T đã có cãi vã với nhau, ngày 02/8/2017 T gọi Nguyễn Văn P cùng đến nhà của C để nói chuyện, là nguyên nhân dẫn đến cuộc đánh nhau mà trong đó cả C, T và P đều lần lượt sử dụng hung khí nguy hiểm có thể đe dọa đến sức khỏe, tài sản, tính mạng của người khác. Hậu quả xảy ra là Nguyễn Văn P đã có hành vi dùng dao Thái Lan đâm trúng vùng ngực của bị hại Chu Anh C dẫn đến bị hại C chết trước khi nhập viện do sốc mất máu. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giết người”.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhưng chỉ vì không kiềm chế được bản thân sau khi bị C vô cớ dùng cây sắt đánh (tỷ lệ thương tật qua giám định 06%), thì bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là con dao Thái Lan mà bị cáo lấy được trên đường bỏ chạy khi bị C đuổi đánh, rồi sau đó đâm vào ngực C, để gây ra cái chết cho C.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác; làm mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương; gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương đương với từng hành vi, tội lỗi mà bị cáo đã gây ra.
Đối với yêu cầu xem xét việc bỏ lọt tội phạm đối với ông Đặng Hữu T của đại diện bị hại.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại các biên bản hỏi cung, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thể hiện: Do có mâu thuẫn trước đó, nên T kêu P đến để nhờ công việc và cả hai cùng đến nhà C để nói chuyện, thì bị C cầm cây sắt đuổi đánh, P chạy ngang qua cửa hàng bán đậu hũ và lấy được con dao Thái Lan trong cửa hàng thì quay lại nhà T và cầm dao đi vào phía sau cửa hàng và đứng nấp vào các hình mẫu (ma nơ canh). T đứng từ xa nhìn thấy C phá sạp rau của nhà mình nên chạy vào cửa hàng gần đó lấy một cây sắt dùng quay mái hiên di động chạy về đánh nhau với C tại trước thềm của hàng bán quần áo, C dùng cây sắt đánh trả lại. Lúc này, P từ phía sau các hình mẫu (ma nơ canh) xông ra dùng dao đâm một nhát trúng vào ngực bên phải của C làm gãy cán dao, lưỡi dao dính trên ngực làm C ngã xuống đất.
Lời khai của Đặng Hữu T về việc quay lại cầm cây sắt đánh nhau với C phù hợp với Kết luận giám định pháp y số 720-17/KLGĐ-PY ngày 18/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh về thương tích, nguyên nhân chết của C. Phù hợp nội dung tại Công văn số 412/CV-PC54 (Đ7) ngày 22/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã giải thích cây sắt dùng quay mái hiên di động mà T đã dùng để đánh nhau với C có thể gây ra được các vết thương cho bị hại Chu Anh C là: “vết rách da nham nhở ở trái phải, kích thước 2 x 1,5 cm gây xuất huyết dưới da, kích thước 2 x 2 cm do vật tày gây có cạnh gây ra” và phù hợp lời khai của P tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm.
Đánh giá toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa có căn cứ để xác định Đặng Hữu T đã kêu P và cả hai cùng đến nhà C để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến nơi thì cả hai bị C cầm cây sắt đuổi đánh. Sau đó, P và T đã quay lại, khi T đang cầm cây sắt dùng quay mái hiên di động để đánh nhau với C thì P từ phía sau các hình mẫu (ma nơ canh) xông ra dùng dao đâm C gây tử vong.
Xét, mặc dù T khai không có ý giết người, không kêu P đến để giết C. Tuy nhiên, diễn biến chuỗi hành vi, chính T đã kêu P đến để giúp giải quyết mâu thuẫn. Dẫn đến C, P và T lần lượt dùng hung khí nguy hiểm đánh nhau, khi T cầm cây sắt đánh nhau với C thì P liền cầm dao xông ra đâm C gây nên cái chết cho C, hành vi trên của T đã tạo điều kiện cho P đâm bị hại. Sau khi đâm, P nói cho T biết đã đâm C 01 nhát, T không nói gì và đi về nhà, chấp nhận hậu quả xảy ra và hậu quả là C đã chết. Vì vậy, hành vi của Đặng Hữu T có dấu hiệu đồng phạm tội “Giết người”.
Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm giữ nguyên quan điểm truy tố. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc xử lý của Cơ quan điều tra đối với hành vi của Đặng Hữu T là chưa triệt để so với các quy định của pháp luật, nên đề nghị tiếp tục điều tra để làm rõ vai trò, hành vi của Đặng Hữu T trong vụ án này để tránh bỏ lọt người phạm tội là có căn cứ. Tuy nhiên, nếu tách vụ án ra tiếp tục làm rõ hành vi của Đặng Hữu T thì ảnh hưởng đến việc cá thể hóa hình phạt và phần bồi thường dân sự nên cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh điều tra để làm rõ vai trò đồng phạm “Giết người” của Đặng Hữu T theo quy định pháp luật.
Về án phí phúc thẩm đại diện bị hại không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 342/2018/HSST ngày 03/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo thủ tục chung.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn P cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án.
2. Về án phí phúc thẩm: Đại diện bị hại không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; - TAND TP Hồ Chí Minh; - VKSND TP Hồ Chí Minh; - Cục THADS TP Hồ Chí Minh; - Công an TP Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam CA TP Hồ Chí Minh; (Để t/đ cho bị cáo) (2); - Đại diện bị hại; - Lưu (3). HS (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |