vanban.org

Bản án 315/2018/DS-PT — Dân sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 12/11/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị V.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chấp nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V. Bu c ông Lê Hoàng M, bà Lê Thị T phải liên đới trả cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V số tiền là 86.668.000đ (Tám mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi tám ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyễn Văn Q “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” Lê Hoàng M"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị V.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 315/2018/DS-PT
Ngày 12-11-2018
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tấn Quốc

Các Thẩm phán:

Ông Trần Quốc Khánh

Ông Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Nguyễn Thị Duyên

- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2018/TLPT-DS ngày 26 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 35/2018/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã K bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐ-PT ngày 12 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967. Có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1966. Có mặt.

C ng đăng ký h khẩu thư ng trú: Số 14, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Tạm trú: Số 61, ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

- Bị đơn:

1. Ông Lê Hoàng M, sinh năm 1973.

2. Bà Lê Thị T, sinh năm 1974.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Lê Hoàng M (đồng nguyên đơn, c ng địa chỉ cư trú: Ấp S, xã T, thị xã K, tỉnh Long An (theo Văn bản ủy quyền ngày 04/7/2018). Có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị V, nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/5/2018, những lời khai có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị V trình bày:

Ngày 03/6/2010 ông M và bà T đến nhà ông bà vay 135.890.000đ với lãi suất 02%tháng, ông Q là ngư i giao tiền, ông M và bà T là ngư i nhận tiền và nhận m t lần, không có ai làm chứng. Hai bên có làm biên nhận nợ do ông M bà T ký tên, th i gian thanh toán gốc và lãi là ngày 26/11/2017, nhưng từ khi vay đến nay ông M và bà T chưa thanh toán cho ông bà số tiền nào cả. Khi vay ông M và bà T đã thỏa thuận sang nhượng cho ông bà m t căn nhà và đất ở khu dân cư ấp S nhà cấp 4, tư ng bê tông, lợp tôn có chiều ngang là 5,5m, dài 15m. Có tứ cận như sau: Đông hướng ra ra l ; Tây hướng Ủy ban nhân xã; Nam giáp đất ông M; Bắc giáp đất anh L. Với giá là 80.000.000đ để cấn trừ m t phần nợ trên, số nợ còn lại là 55.890.000đ thì ông M bà T phải tiếp tục thanh toán cho vợ chồng ông bà. Cho đến nay phía ông M, bà T chưa làm thủ tục sang nhượng cho ông bà nhà và đất theo thỏa thuận, ông bà cũng không giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M bà T. Lý do ông bà ghi số tiền vay 135.890.000đ là số lẻ vì ông M bà T mượn số tiền lẻ, không phải mượn tiền chẵn, mục đích vay để lo việc gia đình. Còn trước đó, ông M bà T có mua phân thuốc thiếu của ông bà và có nợ của vợ chồng ông bà nhưng hai bên đã thỏa thuận xong.

Nay ông bà yêu cầu không yêu cầu tiếp tục thực hiện m t phần n i dung liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên trong biên nhận có mượn tiền ngày 03/6/2010 giữa ông bà và ông M bà T. Ông bà chỉ yêu cầu ông M bà T liên đới trả số tiền vay là 135.890.000đ và không yêu cầu trả lãi.

Bị đơn ông Lê Hoàng M trình bày trong bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa như sau:

Năm 2009, vợ chồng ông M bà T có mua phân thuốc của ông Q bà V (Đại lý Ba Q). Ông Q bà V đã chốt nợ cho vợ chồng ông bà vào ngày 06/5/2009 với số nợ 86.668.000đ. Đến ngày 03/6/2010, ông Q bà V đã c ng dồn gốc và lãi lên số tiền 135.890.000đ thành tiền mượn và yêu cầu vợ chồng ông bà ký tên. Nhưng thực chất đây là tiền mua phân thuốc còn thiếu, từ trước đến nay ông bà không vay mượn tiền của ông Q bà V.

Nay ông bà không đồng ý trả số tiền 135.890.000đ theo yêu cầu của nguyên đơn mà chỉ đồng ý trả số tiền nợ phân thuốc là 86.668.000đ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2018/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã K căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 và các Điều 266, 269, 273, 280 B luật tố tụng dân sự; Điều 430, 468 B luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc H i. Tuyên xử:

1. Chấp nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V. Bu c ông Lê Hoàng M, bà Lê Thị T phải liên đới trả số tiền 86.668.000đ cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 B luật dân sự.

2. Bác m t phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V yêu cầu ông Lê Hoàng M, bà Lê Thị T liên đới trả số tiền 49.222.000đ (bốn mươi chín triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí; quyền kháng cáo; quyền yêu cầu, nghĩa vụ và th i hiệu thi hành án.

Ngày 09/8/2018, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q bà V.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thống nhất với ý kiến đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước th i điểm H i đồng xét xử nghị án Thẩm phán, H i đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của B luật tố tụng dân sự, những ngư i tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Tại Đơn xin giải quyết ngày 30/11/2017 ông Q xác định số tiền 135.890.000đ là tiền ông M bà T mua phân thuốc nợ ông Q và số tiền này ghi thành tiền mượn trong Biên nhận có mượn tiền ngày 03/6/2010. Mặc khác, chữ viết trong Quyển sổ theo dõi việc mua bán ông Q thừa nhận là của ông và ngư i bán phân thuốc trong cửa hàng ông (biên bản đối chất ngày 13/7/2018), trong đó thể hiện c ng sổ ông M còn nợ 86.668.000đ. Nay tại phiên tòa cho rằng việc ghi trong đơn là do bị nhầm lẫn, thư ký ghi không đúng với ý của ông trong biên bản đối chất, cũng như chữ viết trong Quyển sổ không phải của ông, yêu cầu giám định. Tuy nhiên, đây chỉ là l i trình bày không có gì chứng minh trong khi ông đã thừa nhận các tình tiết trên nên không cần phải giám định chữ viết. Vì vậy, cấp sơ thẩm xử là có căn cứ nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo và giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Ông Q bà V kháng cáo yêu cầu ông M bà T trả tiền vay 135.890.000đ. Với lý do hai bên có lập “Biên nhận có mượn tiền” ngày 03/6/2010 xác định ông M bà T vay của ông Q bà V số tiền trên, đồng th i ông Q bà V không khởi kiện đòi bị đơn trả tiền nợ trong hợp đồng mua bán nhưng cấp sơ thẩm xử bu c trả tiền nợ phân thuốc là không đúng.

Xét thấy, tại Đơn xin giải quyết ngày 30/11/2017 ông Q xác định số tiền 135.890.000đ là tiền ông M bà T mua phân thuốc nợ ông Q và số tiền này ghi thành tiền mượn trong “Biên nhận có mượn tiền” ngày 03/6/2010. Với sự thừa nhận này của ông Q được bị đơn xác nhận đủ cơ sở xác định thực chất ông M bà T có nợ tiền mua phân thuốc của ông Q bà V còn việc số nợ này chuyển sang thành tiền vay trong “Biên nhận có mượn tiền” thì đây là sự xác lập giả tạo, không làm phát sinh hiệu lực đối với giao dịch vay tiền. Cấp sơ thẩm xác định giao dịch giữa hai bên thực chất là mua bán tài sản là có căn cứ, nhưng nguyên đơn chỉ khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay bằng “Biên nhận có mượn tiền”, không tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản nên cần xác định quan hệ tranh chấp “hợp đồng vay tiền” và xử bác yêu cầu này, sau đó có tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản sẽ giải quyết bằng vụ án khác thì mới đúng. Cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận m t phần yêu cầu đòi tiền mua bán phân thuốc trong quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là chưa chính xác nhưng bản chất giải quyết vụ án là ph hợp, nguyên đơn không mất nhiều th i gian tố tụng nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này.

Về số tiền nợ trong hợp đồng mua bán là 135.890.000đ hay 86.668.000đ:

Xét thấy, số tiền ghi trong “Biên nhận có mượn tiền” là 135.890.000đ nhưng “Biên nhận có mượn tiền” là giả tạo mà nguyên đơn lại không chứng minh được bị đơn có nợ tiền phân thuốc là 135.890.000đ. Trong khi chữ viết trong Quyển sổ theo dõi việc mua bán (Ba Q II số 43) ông Q thừa nhận là của ông và ông N - ngư i bán phân thuốc trong cửa hàng ông Q (tại biên bản đối chất ngày 13/7/2018, biên bản phiên tòa ngày 01/8/2018) ghi c ng sổ ông M còn nợ 86.668.000đ nên cấp sơ thẩm xác định tiền nợ phân thuốc 86.668.000đ là có căn cứ.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn cho rằng việc ghi trong “Đơn xin giải quyết” ngày 30/11/2017 là do ông bị nhầm lẫn; trong “Biên bản đối chất” ngày 13/7/2018, “Biên bản phiên tòa” ngày 01/8/2018 thư ký ghi không đúng với l i trình bày của ông; cũng như chữ viết trong “Quyển sổ số 43” không phải của ông (có yêu cầu giám định chữ viết) là không có căn cứ. Bởi lẽ, đây chỉ là l i trình bày không có gì chứng minh trong khi ông đã thừa nhận các tình tiết nêu trên. Vì vậy, kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị V.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 148 B luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 430, Điều 440 B luật dân sự; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc H i.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V. Bu c ông Lê Hoàng M, bà Lê Thị T phải liên đới trả cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V số tiền là 86.668.000đ (Tám mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi tám ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 B luật dân sự.

2. Bác m t phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V về việc yêu cầu ông Lê Hoàng M, bà Lê Thị T liên đới trả số tiền 49.222.000đ (Bốn mươi chín triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

3. Về án phí sơ thẩm:

Ông Lê Hoàng M, bà Lê Thị T phải liên đới chịu 4.333.000đ (Bốn triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V phải liên đới chịu 2.461.000đ (Hai triệu bốn trăm sáu mươi mốt ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu không được chấp nhận, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã n p 3.397.000đồng theo biên lai thu số 0006795 ngày 31/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã K. Hoàn trả cho ông Q bà V tiền tạm ứng án phí đã n p là 936.000đ (Chín trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

4. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị V phải liên đới chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã n p 600.000đ do ông Q và bà V đã n p theo biên lai thu số 0006869 ngày 09/8/2018 và số 0006930 ngày 17/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã K. Hoàn trả cho ông Q bà V tiền tạm ứng án phí đã n p là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

5. Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ