- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Dũng - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc D phạm tội Trộm cắp tài sản (Chƣa đạt).
- Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 18 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 315/2017/HSST Ngày 29-11-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Kim Châu Hổ;
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 319/2017/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 321/2017/HSST-QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Lê Quốc D, sinh năm 1986 tại tỉnh H; thƣờng trú: Thôn 12, xã Đ, huyê ̣n Đ, tỉnh H; nghề nghiệp: Thợ sơn nƣớ c ; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lê Văn T, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thi ̣ B, sinh năm 1963; vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2015; bị cáo có 02 chị em, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 04/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án 254/2008/HSST;
- Ngày 11/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 306/2009/HSST ngày 11/11/2009;
- Ngày 25/7/2014, bị Tòa án nhân dân Quâ ̣n 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 103/2014/HSST.
Bị cáobi ̣ ta ̣m giam tƣ̀ ngày 06/8/2017. Có mặt.
Người bị hại: Ông Nguyễ n Duy H, sinh năm 1979; thƣờng trú: Xã N , huyê ̣n Đ , tỉnh N; tạm trú : Số 10B/16B, khu phố B , phƣờ ng A, thị xã D , tỉnh B.Vắng mă ̣t.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Ngo ̣c D, sinh năm 1978; thƣờng trú: Thôn S, xã T, huyện N, tỉnh T. Vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Lê Đinh H, sinh năm 1993; thƣờng trú: Xóm 1, xã T, huyê ̣n T, tỉnh
̀ N; chỗ ở: Khu tâ ̣p thể nhà ở C , khu phố T , phƣờ ng Đ, thị xã D , tỉnh B. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Tro ̣ng L, sinh năm 1965; thƣờng trú: Khối 10, phƣờng M, thị xã H, tỉnh N; chỗ ở: Tổ 3, khu phố Tây B, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/8/2017, sau khi Lê Quốc D đi đám cƣớ i về đến khu vƣ̣c cầu vƣợt S, thị xã D , tỉnh B thì gặp đối tƣợng tên T (không rõ nhân thân lai li ̣ch ), cả hai cùng đi uống rƣợu . Đến 18 giờ 30 cùng ngày, T điều khiển xe mô tô Yamaha exciter (không rõ biển số) chở D đi ngang qua khu nhà ở tâ ̣p thể C thuô ̣c tổ 3, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B, cả hai nhìn thấy xe mô tô hiê ̣u Sirius biển số 36B3-476.18 đang để phi a trƣớ c nhà ông Lê Đinh H
́
̀ thuô ̣c khu nhà ở tập thể C . Lúc này T dƣ̀ ng xe cách xe mô tô Sirius khoảng 20 mét, T đƣa cho D 01 cây đoản chƣ̃ T bằng k im loa ̣i , D quan sát xung quanh không thấy ai nên tiếp câ ̣n xe và dùng đoản đút vào ổ khóa nguồn và vă ̣n về bên phải thì đèn xe bậc sáng và đè n xi nhan kêu “Tút , Tút”, D liền quay đầu xe hƣớ ng ra đƣờ ng đi ̣nh tẩu thoá t thi bi ̣ phát hiê ̣n nên D bỏ lại xe và tẩu thoát
̀
nhƣng bi ̣ ngƣờ i dân cùng chinh quyền đi ̣a phƣơng bắt giƣ̃ . Riêng đối vớ i cây
́ đoản trong quá trinh tẩu thoát D đánh rơi nên không tim thấy để xƣ̉ lý.
̀
̀
Theo kết luận định giá số 192/BB.ĐG ngày 15/8/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là một xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số 36B3-476.18 trị giá 8.500.000 đồng đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận luận định giá số 192/BB.ĐG ngày 15/8/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.
Tại cáo trạng số 307/QĐ - KSĐT ngày 23 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 và Điều 18 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 18 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Quốc D mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc D không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại và những ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/8/2016, Lê Quốc D cùng mô ̣t đối tƣợng tên T chƣa rõ nhân thân lai li ̣ch đa cõ ́ hành vi lén lút chiếm đoa ̣t mô ̣t xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số 36B3-476.18của ngƣờ i bi ̣ ha ̣i Lê Đinh H , tài
̀ sản bi ̣ chiếm đoa ̣t tri ̣ giá 8.500.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọnghoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Lê Quốc D chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại có giá trị 8.500.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Lê Quốc D thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Quốc D không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp phạm tội chƣa đạt đƣợc quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự nên cũng cần xem xét tình tiết này cho bị cáo.
Về nhân thân : Bị cáo là ngƣời lao động chƣa có tiền án , tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu , vào ngày 04/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyê ̣n Di An , tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tàĩ sản” theo bản án 254/2008/HSST; Ngày 11/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 306/2009/HSST ngày 11/11/2009; Ngày 25/7/2014, bị Tòa án nhân dân Quâ ̣n 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 103/2014/HSST tất cả nhƣ̃ng lần pha ̣m tô ̣i trƣớ c đây bi ̣ cáo đều thƣ̣c hiê ̣n hành vi chiếm đoa ̣t tài sản của ngƣờ i khác nên Hô ̣i đồng xét xƣ̉ c ũng xem xét tinh tiết này đối vớ i bi ̣ cáo.
̀
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại, tại cơ quan điều tra, ngƣời bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng: Vâ ̣t chƣ́ ng trong vu ̣ án là mô ̣t cây đoản hinh chƣ̃ T
̀ nhƣng quá trình tẩu thoát bị cáo D đa lã ̀m thất la ̣c, cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành tìm kiếm nhƣng không tìm thấy nên không thể xem xét xử lý.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Quốc D phải nộp theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc D phạm tội Trộm cắp tài sản (Chƣa đạt).
Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, pKhoản 1 Điều 46; Điều 18 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc D 10 (mƣờ i) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2017.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Quốc D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (03); - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (02); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND xã P, huyê ̣n A, tỉnh N (01); - THA hình sự (04); - Lƣu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đa kỹ ́) Phan Thị Nguyệt Ánh |