- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 314/2022/HNGĐ-ST Ngày 30- 8- 2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Luỹ
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 243/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/7/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: tổ 05, ấp Hòa An, xã Hòa L, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: số 447 đường Chiến Lược, phường T Tạo, quận Bình T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: anh Đặng Hoàng P, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: tổ 05, ấp Hòa An, xã Hòa L, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(Chị Đ yêu cầu vắng mặt, anh P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:
Vào năm 2008, chị và anh Đặng Hoàng P được gia đình tổ chức lễ cưới, tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Hoà L (Giấy chứng nhận kết hôn số 150, quyển số 01/2009, ngày 29/6/2009). Nguyên nhân mâu thuẫn: do anh P hay ghen vô cớ, thường xuyên cự cãi và bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Do tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh P. Thời gian chung sống vợ chồng có một con chung tên Đặng Hoàng Vỹ T, sinh ngày 02/3/2009 do anh P đang nuôi dưỡng, đồng ý cho anh P tiếp tục nuôi con chung, sẽ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 800.000 đồng đến khi con thành niên và lao động được. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án tiến hành xác minh được chị Nguyễn Thị N (chị ruột của chị Đ) cho biết: Sau khi cưới, Đ sống cùng gia đình chồng, chung sống với P được một con chung tên Đặng Hoàng Vỹ T, sinh ngày 02/3/2009. Qúa trình chung sống Đ có hay điện thoại về tâm sự mỗi khi có chuyện không vui, vợ chồng Đ hay cự cãi mà nguyên nhân chính là do P hay ghen. Khoảng 03 năm nay, Đ và P không còn chung sống, cha mẹ hai bên đã hàn gắn nhưng không được, Đ đã bỏ quê mẹ ruột ở Cà Mau sống từ đó đến nay. Chị không có ý kiến đối với việc ly hôn giữa Đ và P.
Tòa án tiến hành xác minh được chị Đặng Thị Thúy H (em ruột của anh Đặng Hoàng P) cho biết: Qúa trình chung sống vợ chồng anh P, chị Đ hay cự cãi, do anh P hay ghen nên sống không vui vẻ, không hạnh phúc. Chị Đ đã bỏ về quê ở Cà Mau từ năm 2019 đến nay. Anh P hiện nay đi làm ở Bình Dương. Sau khi ly thân, anh P đang nuôi dưỡng con chung tên Đặng Hoàng Vỹ T, cháu được nuôi dưỡng và đi học đầy đủ.
Tòa án thu thập nguyên vọng của cháu Đặng Hoàng Vỹ T, thể hiện được tiếp tục sống với anh Đặng Hoàng P.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Qua đó, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đ được ly hôn với anh P. Về con chung: cần giao cháu Đặng Hoàng Vỹ T, sinh ngày 02/3/2009 cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị Đ về việc cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 800.000 đồng. Chia tài sản và nợ chung không có nên không xem xét; về án phí, chị Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại xã Hoà L, huyện Phú T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về yêu cầu ly hôn: Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh P được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và cuộc sống hôn nhân vợ chồng nếu muốn có được hạnh phúc dài lâu, đạt được mục đích thì vợ chồng phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, phải biết thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau, nhưng anh chị không làm được đều đó, trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã triệu tập anh P để tham gia hòa giải hai lần và trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh đều không đến, thời gian ly thân của anh chị kéo dài, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Đặng Hoàng P là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:
Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Đặng Hoàng Vỹ T, sinh ngày 02/3/2009 do anh P đang nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Cháu T hiện đang sống chung anh P, được anh chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục sống với anh P, chị Đ đồng ý cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao cháu T cho anh P chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh P vắng mặt và không có ý kiến tranh chấp yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con nhưng Chị Đ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 800.000 đồng đến khi con thành niên và lao động được nhằm thể hiện bổn phận của người mẹ đối với con cái do chị không trực tiếp nuôi dưỡng và cũng nhằm đảm bảo quyền lợi của cháu Đặng Hoàng Vỹ T, vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị Đ.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Đ xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Đ xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đối với án phí cấp dưỡng nuôi con, các bên không có tranh chấp mà do chị Đ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và có yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án nên không thuộc trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch (điểm đ, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016) mà chỉ chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch. Anh P không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.
1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Đặng Hoàng P. Giấy chứng nhận kết hôn số 150, quyển số 01/2009, ngày 29/6/2009 do Uỷ ban nhân dân xã Hoà L cấp không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Đặng Hoàng Vỹ T, sinh ngày 02/3/2009 cho anh Đặng Hoàng P trực tiếp nuôi dạy đến thành niên và tự lập được. Chị Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 800.000 đồng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Thời gian thực hiện cấp dưỡng nuôi con khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Đ không thực hiện việc cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Chị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, anh P cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị Đ.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Ghi nhận chị Đ xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 150.000 đồng, tổng cộng 450.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0005176 ngày 21/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú T, còn lại 150.000 đồng chị Đ phải tiếp tục nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú T. Anh P không phải chịu án phí.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Phú T; - Chi cục THADS huyện Phú T; - UBND xã Hòa L, huyện Phú T tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |