- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn X và đp - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 314/2021/HS-ST Ngày 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân.
Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 286/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 302/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn X (tên gọi khác: Gáo), sinh năm 2000 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cƣ trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 30/11/2020.
2. Huỳnh Long Minh Nh, sinh năm 2000 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cƣ trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Long P (đã chết) và bà Long Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 30/11/2020.
3. Phạm Văn Ng (tên gọi khác: Quý), sinh năm 2000 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cƣ trú: Ấp 8, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 30/11/2020.
Các bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị hại: Ông Trƣơng Văn B, sinh năm 1984, nơi cƣ trú: Ấp Mỹ, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Trƣơng Thanh T, sinh năm 1985. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 13 gi 00 phút, ngày 29/11/2020, Nguyễn Văn X và ông Lê Văn S có cá cƣợc đá gà với nhau và xảy ra mâu thu n trong việc X trả tiền cá cƣợc còn thiếu 200.000 đồng, ông Sa có dËng tay tát X hai cái sau đó cả nhóm đi về. Đến khoảng 16 gi cËng ngày, X rủ Huỳnh Long Minh Nh, Phạm Văn Ng, đối tƣợng Hải và 02 đối tƣợng nam thanh niên là bạn của Hải (không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch) cầm theo 02 cây dao tự chế (X, Nh mỗi ngƣ i cầm 01 con dao) đi từ phòng trọ của X đến khu vực nhà trọ nơi ông S đang ở tại địa chỉ số 1/264A khu phố Hòa Lân 2, phƣ ng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để tìm đánh ông S. Khi vừa ra khỏi phòng trọ, Nghị kêu Nhật đƣa con dao cho Nghị cất giấu vào lƣng quần. Cả nhóm đi đến trƣớc phòng trọ của ông Sáu thì gặp ông Trƣơng Thanh T. Do ông T có quen biết đối tƣợng X và thấy X kéo nhóm bạn đến tìm ông S để giải quyết mâu thu n nên có nói với X: “Thôi, anh em với nhau cả, bỏ qua đi”, đồng th i khuyên X đi về. Lúc này, ông Trƣơng Văn B (Róc Ba) là anh ruột của ông T đang ở phòng trọ nghe tiếng ồn ào nên đi ra nói: “Tụi bay làm gì mà la lối om sòm, để cho ngƣ i khác ngủ”, đồng th i đu i nhóm của X đi về. Sau đó nhóm của X không đi về mà đứng cự cãi qua lại và có một đối tƣợng (không xác định đƣợc) trong nhóm của X đã dËng tay đánh ông B. Bị đánh, ông B dËng tay đánh lại nên nhóm của X đi lËi lại hƣớng ra ngoài đƣ ng. Trong lúc đu i đánh nhóm của X, ông B nhặt cục bê tông dƣới đƣ ng (lối đi chung của dãy trọ) ném vào ngƣ i của Ng, Ng đang vừa chạy vừa ngoái đầu lại nhìn thấy nên đã vung dao tự chế đang cầm s n trên tay, chém một nhát hƣớng từ trên xuống dƣới trúng vào vËng đỉnh đầu của ông Ba, làm cho ông Ba té ngã ngửa n m bất động dƣới đƣ ng. Sau đó Ng cËng với nh ng ngƣ i đi cËng trong nhóm bỏ chạy. Sau khi sự việc xảy ra, ông Trƣơng Thanh T đi tìm và bắt gặp đƣợc Huỳnh Long Minh Nh nên đã báo cho Công an phƣ ng Thuận Giao để xử lý và Nguyễn Văn X, Phạm Văn Ng đã đến Công an thành phố Thuận An đầu thú và bị tạm gi . Ông Trƣơng Văn B đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dƣơng.
Vật chứng thu gi trong vụ án: 01 dao tự chế b ng kim loại màu trắng, dài 60 cm, có mũi nhọn, cán dao b ng gỗ, có ốp kim loại bên ngoài; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh (kèm sim).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 110/2021/GĐPY ngày 12/3/2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận về thƣơng tích của ông Trƣơng Văn B nhƣ sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thƣơng sọ não: Vết thƣơng vËng đỉnh đầu 7 x 0,4cm, sẹo lành. Máu tụ ngoài màng cứng trán gi a, xuất huyết dƣới nhện liềm não, tụ khí nội sọ, nứt sọ trán đỉnh gi a kích thƣớc 4 x 0,2cm, đã điều trị nội khoa.
2. Tỷ lệ t n thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 20% (Hai mƣơi phần trăm) theo bảng tỷ lệ t n thƣơng cơ thể ban hành kèm theo thông tƣ số: 22/2019/TT-BYT do Bộ y tế ban hành ngày 28/8/2019.
Cáo trạng số 295/CT-VKS-TA ngày 19/8/2021 của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn X, Huỳnh Long Minh Nh và Phạm Văn Ng về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên gi quyền công tố v n gi nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Trong vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là ngƣ i thực hành, trong đó bị cáo Nguyễn Văn X là ngƣ i rủ rê; bị cáo Phạm Văn Ng là ngƣ i trực tiếp thực hiện hành vi, bị cáo Huỳnh Long Minh Nh là đồng phạm nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo X, bị cáo Ng cao hơn bị cáo Nh. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tË, xử phạt các bị cáo Phạm Văn Ng mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, xử phạt các bị cáo Huỳnh Long Minh Nh mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thƣ ng nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 dao tự chế b ng kim loại màu trắng, dài 60 cm, có mũi nhọn, cán dao b ng gỗ, có ốp kim loại bên ngoài;
Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh (kèm sim).
Tại đơn xin vắng mặt ngày 16/9/2021, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và nh ng ngƣ i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Về sự vắng mặt của các bị cáo Nguyễn Văn X, Huỳnh Long Minh Nh và Phạm Văn Ng và nh ng ngƣ i tham gia tố tụng khác: Sau khi nhận Quyết định đƣa vụ án ra xét xử của Toà án và giấy triệu tập tham gia phiên tòa, do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp trên địa bàn thành phố Thuận An nên các bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị hại không có yêu cầu gì và vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các bị cáo, bị hại. Việc vắng mặt của các bị cáo, bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử và phË hợp với quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận
Căn cứ l i khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của các bị cáo, các bị cáo đều khai toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố. L i nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra phË hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, l i khai của bị hại, ngƣ i làm chứng, vật chứng thu gi .
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Do có mâu thu n với ông Lê Văn S trong việc S dùng tay đánh Xuân. Ngày 29/11/2020, Nguyễn Văn X đã rủ Huỳnh Long Minh Nh và Phạm Văn Ng đến tìm ông S tại 1/264A, khu phố Hòa Lân 2, phƣ ng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để giải quyết mâu thu n, tại đây các bị cáo không gặp ông S mà gặp ông Trƣơng Văn B, do ông B có cự cãi với các bị cáo, nên các bị cáo đã sử dụng dao b ng kim loại (là hung khí nguy hiểm) chém gây thƣơng tích cho bị hại Trƣơng Văn B.
Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 110/2021/GĐPY ngày 12/3/2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận về thƣơng tích của ông Trƣơng Văn B tỷ lệ thƣơng tích là 20% (Hai mƣơi phần trăm). Hành vi các bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phË hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về sức khỏe của ngƣ i khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hƣởng an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Các bị cáo nhận thức hành vi dËng dao b ng kim loại là hung khí nguy hiểm chém bị hại gây thƣơng tích là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhƣng các bị cáo v n cố ý phạm tội vì vậy cần xét xử và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân phát sinh mâu thu n và nhân thân của từng bị cáo.
Trong vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, trong đó bị cáo X là ngƣ i rủ rê, bị cáo Ng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nh là đồng phạm giúp sức nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo X, Ng cao hơn bị cáo Nh.
Đối với đối tƣợng tên Hải và 02 ngƣ i bạn của Hải đi có mặt tại th i điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên, qua điều tra không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ của Hải, nên sẽ xử lý ở vụ án khác khi có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Văn Ng và Nguyễn Văn X sau khi phạm tội ra đầu thú nên các bị cáo đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt nhƣng hồ sơ thể hiện không yêu cầu các bị cáo phải bồi thƣ ng, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 dao tự chế b ng kim loại màu trắng, dài 60 cm, có mũi nhọn, cán dao b ng gỗ, có ốp kim loại bên ngoài thu gi trong vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh (kèm sim) thu gi trong vụ án do liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Điều 109, Điều 136; các Điểm c, d khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣ ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn X, Huỳnh Long Minh Nh và Phạm Văn Ng phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tË, th i hạn chấp hành hình phạt tË tính từ ngày 30/11/2020.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ng 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tË, th i hạn chấp hành hình phạt tË tính từ ngày 30/11/2020.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Long Minh Nh 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tË, th i hạn chấp hành hình phạt tË tính từ ngày 30/11/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 dao tự chế dài 60 cm.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh (kèm sim).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2021)
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn X, Huỳnh Long Minh Nh và Phạm Văn Ng mỗi ngƣ i phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |