vanban.org

Bản án 314/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 27/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công Đ phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Huỳnh Công Đ 38 ( ba mươi tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2018. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đông H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Công Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công Đ phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 314/2018/HS-ST
Ngày: 27/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cúc

Bà Hoàng Thị Thiệu

- Thƣ ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thảo - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 27/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 334/2018/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số:335 /2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

1.Họ và tên:HUỲNH CÔNG Đ– sinh năm:1976; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT và nơi cƣ trú: ( số mới 315 K ) phƣờng T, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 07/12; Con ông: Huỳnh T (c); Con bà: Nguyễn Thị Thanh M; Tiền án: 01 tiền án chƣa đƣợc xóa, Ngày 29/7/2015, TAND quận Hai Bà Trƣng xử phạt 30 tháng tù tội Trộm cắp tài sản; Nhân thân: 06 tiền án đã đƣợc xóa gồm: Ngày 21/8/1997: TAND quận Hoàn Kiếm xử 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 22/6/1998 TAND quận Hai Bà Trƣng xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 17/8/2000 TAND quận Hai Bà Trƣng xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 20/12/2000 TAND quận Hoàn Kiếm xử 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 15/8/2002 TAND quận Hoàn Kiếm xử 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 16/3/2009 TAND quận Hai Bà Trƣng xử 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Về tiền sự: có 02 tiền sự năm 1994 và năm 2007 bị xử lý hành chính về các hành vi trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng. Danh chỉ bản số 0192 lập ngày 13/4/2018 do công an Quận Hai Bà Trƣng cung cấp; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/4/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2.Họ và tên: ĐỖ ĐÔNG H – sinh năm:1960; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT: số 9 M phƣờng M, quận H, Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Lang thang; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 08/12; Con ông: Đỗ Văn T (c); Con bà: Nguyễn Thị H (c); Tiền án: Không; Nhân thân: 02 tiền án đã đƣợc xóa: Ngày 13/8/1982 TAND quận Hai Bà Trƣng xử 18 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích; Ngày 31/8/2011 TAND quận Hai Bà Trƣng xử 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Về tiền sự: có 03 tiền sự từ năm 1985 đến năm 1986 bị xử lý hành chính về các hành vi Cố ý gây thƣơng tích và Cƣớp tài sản. Danh chỉ bản số 0193 lập ngày 13/4/2018 do công an Quận Hai Bà Trƣng cung cấp; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/4/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 15h50‟ ngày 11/4/2018, Nguyễn Phƣơng H đi xe máy đến gặp Đỗ Đông H tại khu vực trƣớc cửa số 447 Bạch Mai - Hà Nội nhờ H mua hộ 400.000 đồng ma túy „„heroin‟‟. H đƣa cho H 440.000 đồng trong đó 400.000 đồng là tiền ma túy, còn 40.000 đồng là tiền công trả cho H. H gọi điện cho Huỳnh Công Đ hỏi mua 400.000 đồng ma túy. Đ đồng ý bán và thỏa thuận giao ma túy tại khu vực trƣớc cửa nhà Đ - số 315 Kim Ngƣu, Hai Bà Trƣng, Hà Nội. H bảo H chở H đi, đến khu vực trƣớc cửa số nhà 313 Kim Ngƣu, H bảo H dừng xe, H đi vào gặp và giao 400.000 đồng cho Đ, Đ chƣa kịp giao ma túy thì bị tổ công tác CA P Lê Đại Hành - Hai Bà Trƣng - Hà Nội phát hiện, yêu cầu kiểm tra hành chính. Đ làm rơi từ tay pH xuống dƣới đất cạnh chân pH của Đ: 03 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng. Sau đó, Đ đã tự giác nhặt lên giao nộp cho tổ công tác. Tại chỗ, Đ khai nhận đó là ma túy “heroin” của Đ mua về để bán lại cho H.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Đ: 400.000 đồng và 01 ĐTDĐ Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng; thu giữ của H: 01 ĐTDĐ Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng và số tiền 290.000 đồng; Thu giữ của H: 01 xe máy Honda Wave màu xanh BKS: 28S2-8968 đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trƣng đã ra Quyết định trƣng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của Huỳnh Công Đ.

Tại bản Kết luận giám định số 3608/ KLGĐ-PC54 ngày 20/4/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội, kết luận:

03 (Ba) gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng là ma túy loại heroin, tổng khối lượng là: 0,192 gam.

Quá trình điều tra xác định : nguồn gốc số ma túy trên là của Huỳnh Công Đ mua với giá 300.000 đ tại khu vực trƣớc cửa số nhà 315 Kim Ngƣu - P. Thanh Lƣơng - Hai Bà Trƣng - Hà Nội của ngƣời phụ nữ tên T, sau đó bán lại cho Đỗ Đông H.

Đối với số tài sản thu giữ của Đ, quá trình điều tra xác định 400.000 đồng là tiền H vừa đƣa cho Đ để mua ma túy, 01 ĐTDĐ Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng là tài sản của Đ có sử dụng để liên lạc mua bán ma túy với H;

Đối với số tài sản thu giữ của H, quá trình điều tra xác định trong số 290.000 đồng là có 40.000 đồng tiền công mua hộ ma túy cho H, còn lại 250.000 đồng và chiếc ĐTDĐ là tài sản của H, H sử dụng điện thoại vào việc liên lạc mua bán ma túy với Đ.

Đối với Nguyễn Phƣơng H, cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan cùng chiếc xe máy thu giữ của H để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Đối với T - ngƣời bán ma túy cho Đ, do Đ không quen biết, không rõ nhân thân, lai lịch, cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín số điện thoại 0966387173 của T sử dụng nhƣng không có kết quả, không xác định chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.

Tại cáo trạng số 317/CT-VKS ngày 19/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Huỳnh Công Đ và Đỗ Đông H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thừa nhận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2018 tại khu vực trƣớc cửa số nhà 313 Kim Ngƣu phƣờng Thanh Lƣơng, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Huỳnh Công Đ và Đỗ Đông H đã có hành vi mua bán trái phép 0,192 gam heroin. Các bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251 khoản 1, khoản 5 ( đối với Huỳnh Công Đ ); Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 hiểm h ( đối với Huỳnh Công Đ ) của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Huỳnh Công Đ với mức án từ 36 đến 42 tù, Đỗ Đông H với mức án từ 30 đến 36 tháng tù . Phạt tiền bị cáo Huỳnh Công Đ 5.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy 0,192 gam heroin thu giữ của các bị cáo. Tịch thu sung công 400.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ và 40.000 đồng của bị cáo H là tiền thu lời bất chính. Trả lại bị cáo H 250.000 đồng. Tịch thu sung công của H 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen và của Đ 01 điện thoại di động Nokia màu đen 1280.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo Huỳnh Công Đ và Đỗ Đông H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Đƣợc chứng minh bằng tang vật vụ án thu đƣợc là tiền mua bán ma túy và 03 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Theo Kết luận giám định số: 3608/KLGĐ-PC54 ngày 20/4/2018, Phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy màu trắng là ma túy loại heroin, khối lƣợng 0,192 gam. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 11/4/2018 tại khu vực trƣớc cửa số nhà 313 Kim Ngƣu phƣờng Thanh Lƣơng, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Huỳnh Công Đ và Đỗ Đông H đã có hành vi mua bán trái phép 0,192 gam heroin . Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Huỳnh Công Đ có 07 tiền án trong đó có 6 tiền án đều về tội Trộm cắp tài sản đã đƣợc xóa. Đối với tiền án ngày 29/7/2015, TAND quận Hai Bà Trƣng xử 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 15/8/2017, chƣa xóa án. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm. Ngoài ra, bị cáo có 02 tiền sự năm 1994 và 2007 về hành vi Trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng đã hết thời hiệu.

Đối với bị cáo Đỗ Đông H nhân thân có 02 tiền án về tội Cố ý gây thƣơng tích và Tàng trữ trái phép chất ma túy đều đã đƣợc xóa, 02 tiền sự năm 1985 và 1986 đều đã hết thời hiệu.

Khi lƣợng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để từ đó có hình phạt tƣơng xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo: Các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình. Đây là tình tiết để giảm nhẹ nên áp dụng Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về hình phạt:

- Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nƣớc ta, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng do hám lời vẫn cố tình phạm tội. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đều đã đƣợc các cơ quan pháp luật giáo dục cải tạo nhƣng cũng không chịu sửa chữa mà vẫn tiếp tục con đƣờng phạm tội. Đối với bị cáo Huỳnh Công Đ phạm tội lần này là tái phạm nên có mức hình phạt cao hơn so với bị cáo Đỗ Đông H.

Đối với các bị cáo, cần pH áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

- Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này các bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.

Về biện pháp tƣ pháp và các vấn đề khác: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy 0,192 gam Heroin thu giữ của các bị cáo. Tịch thu sung công 400.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ và 40.000 đồng của bị cáo H là tiền thu lời bất chính. Trả lại bị cáo H 250.000 đồng. Tịch thu sung công của H 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen và của Đ 01 điện thoại di động Nokia màu đen 1280.

Đối với Nguyễn Phƣơng H, ngày 06/9/2018 cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan và tang vật thu giữ của H để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau. Việc tách vụ án này phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 251 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 điểm h Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công Đ phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Huỳnh Công Đ 38 ( ba mươi tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2018.

- Căn cứ vào: Điều 251 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đông H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đỗ Đông H 32 ( ba mươi hai ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2018.

-Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy đã đƣợc niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Huỳnh Công Đ, bên trong chứa 0,192 gam heroin.

Tịch thu sung công của bị cáo Đ 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, số Imei: 355956/04/991484/3

Tịch thu sung công của bị cáo H 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số Imei: 356897077512449.

Tịch thu sung công 400.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ và 40.000 đồng của bị cáo H là tiền thu lời bất chính.

Trả lại bị cáo H số tiền 250.000 đồng.

( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 16 tháng 11 năm 2018, tang vật số 50/19 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 22 tháng 11 năm 2018 tại Kho bac Nhà nƣớc quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội ).

- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332 và Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ