- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung Ng và đồng phạm - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiệ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Trung Ng 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2025/HS-ST Ngày: 18/6/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Đặng Thị Huệ Tú
2/ Ông Nguyễn Đình Cương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hoài Chính - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 254/TLST-HS ngày 28/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2660/2025/QĐXXST-HS ngày 20/5/2025 đối với các bị cáo:
1/ Trần Trung Ng, sinh ngày 19/3/2003 tại tỉnh BP; Hộ khẩu thường trú: Thôn 1, xã Long Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh BP; Nơi cư trú: Số 38/A ấp B (ấp MH cũ), xã TC, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T2 và bà Lê Thị Th; Vợ, con: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024 (có mặt).
2/ Phạm Văn T, sinh ngày 28/8/2000 tại tỉnh ST; Hộ khẩu thường trú: Ấp BD B, xã AT 2, huyện CLD, tỉnh ST; Nơi cư trú: Phòng trọ số X, Tổ B, khu phố TA, phường TVH, thành phố TU, tỉnh BD; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và bà Lâm Thị L; có vợ và 01 con sinh năm 2024. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024 (có mặt).
3/ Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 05/7/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số 1X lô J, Cư xá TĐ, Phường HB, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà trọ Ô, khu phố KĐ, thị trấn CG, huyện CG, tỉnh LA; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Lái xe ôm công nghệ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng T3 (chết) và bà Huỳnh Thị Kim L1; có vợ và 1 con sinh năm 2020. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2024 (có mặt). 4/ Đặng Trần Nhật H, sinh ngày 04/02/1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số 2A Chung cư PTH, Phường T, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà trọ Ô, khu phố KĐ, thị trấn CG, huyện CG, tỉnh LA; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Lái xe ôm công nghệ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Đặng Thị Hồng Ph; Vợ, con: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2024 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 21 giờ 40 phút ngày 30/9/2024, tại trước nhà số 340/X đường Nguyễn Văn L, Phường MS, quận GV, Tổ tuần tra Công an Phường MS, quận GV phát hiện Đặng Trần Nhật H điều khiển xe máy điện biển số 61CA-042.XX và Nguyễn Hoàng T1 điều khiển xe máy điện biển số 59TA-215.XX có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra trong cốp xe của H có 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng bằng kim loại, báng súng màu đen; 12 viên đạn bằng kim loại (chiều dài 5,6 x 15,6 mm); 03 vỏ đạn bằng kim loại (chiều dài 15,6 mm) và 01 gậy dũ ba khúc bằng kim loại, H và T1 khai đang trên đường đi bán súng và đạn, nên đã đưa H và T1 cùng vật chứng về Công an Phường 16 lập Biên bản sự việc. Ngoài ra, H và T1 còn khai trước đó vào ngày 10/9/2024 đã mua 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng kim loại màu đen có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA cùng 06 viên đạn bằng kim loại của Trần Trung Ng và Phạm Văn T, giá 6.500.000 đồng, đang cất giấu tại chỗ ở của H. Ngày 01/10/2024, khám xét chỗ ở của Đặng Trần Nhật H (Phòng số 10 nhà trọ Ô, tổ H, khu phố KĐ, thị trấn CG, tỉnh LA), phát hiện thu giữ 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng kim loại màu đen có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA và 01 bộ phận của thân súng có chữ MADE IN CHINA. Cùng ngày 01/10/2024, khám xét chỗ ở của Nguyễn Hoàng T1 (Phòng số 12, nhà trọ Ông Đại, tổ 2, khu phố KĐ, thị trấn Cần Giộc, tỉnh LA), nhưng không có đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 05/10/2024, khám xét chỗ ở của Trần Trung Ng (số 38/A ấp B, xã TC, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh), phát hiện thu giữ 01 ổ quay, 01 lò xo và 02 viên đạn có đầu đạn bằng cao su.
Ngày 06/10/2024, khám xét chỗ ở của Phạm Văn T (Phòng số X nhà không số, tổ B, khu phố TA, phường TVH, thành phố TU, tỉnh BD), nhưng không có đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội.
Vật chứng là súng và đạn của thu giữ của Đặng Trần Nhật H đã được giám định tại Kết luận giám định số 1175X/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: “01 khẩu súng ngắn ổ quay, không có số súng là loại súng được chế lại để bắn đạn cỡ 5,6 mm, súng còn sử dụng được, bắn thực nghiệm đạn nổ, là vũ khí quân dụng; 01 khẩu súng ngắn ổ quay, thân súng có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA là loại súng được chế lại để bắn đạn cỡ 5,6 mm, súng còn sử dụng được, bắn thực nghiệm đạn nổ, là vũ khí quân dụng; 12 viên đạn bằng kim loại, cùng cỡ 5,6 x 15,6 mm là loại đạn thể thao, chưa qua sử dụng, thuộc nhóm vũ khí thể thao; 01 gậy dũ ba khúc bằng kim loại, có kích thước khi thu gọn dài khoảng 240 mm, khi dũ dài tối đa khoảng 630 mm, phần tay nắm màu đen còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ; 03 vỏ đạn bằng kim loại, cùng chiều dài 15,6 mm không thuộc nhóm vũ khí và 01 bộ phận thân súng, có ký tự “MADE IN CHINA” không thuộc nhóm vũ khí”.
Vật chứng là linh kiện súng và đạn thu giữ của Trần Trung Ng đã được giám định tại Kết luận giám định số 12065/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công An Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: “02 viên đạn kim loại đầu đạn bằng cao su là đạn cao su, có cùng cỡ 09 mm x 22 mm, chưa qua sử dụng, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ; 01 bộ phận ổ quay bằng kim loại, có 06 buồng chứa đạn đường kính mỗi buồng chứa đạn khoảng 9,5 mm x 7,35 mm là bộ phận ổ quay, không xác định được là ổ quay của loại súng nào, không thuộc nhóm vũ khí nêu trong Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và 01 lò xo bằng kim loại dài khoảng 77 mm là lò xo kim loại, không thuộc nhóm vũ khí nêu trong Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận GV đã ra Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đặng Trần Nhật H và Nguyễn Hoàng T1 vào ngày 05/10/2024, đối với Trần Trung Ng và Phạm Văn T vào ngày 07/10/2024, để điều tra; đến ngày 25/12/2024, chuyển vụ án đến Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, để điều tra theo thẩm quyền.
Kết quả điều tra xác định vào đầu tháng 09/2024, Trần Trung Ng có ý định mua súng, để bán lại kiếm lời, nên Ng sử dụng tài khoản Telegram tên “B” liên lạc với người sử dụng tài khoản Telegram tên “S” (không rõ lai lịch) đặt mua 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng kim loại màu đen có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA cùng 06 viên đạn bằng kim loại, giá 5.000.000 đồng và 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng bằng kim loại, báng súng màu đen, giá 4.500.000 đồng, địa điểm giao súng là chỗ ở của Ng (số 38/X ấp B, xã TC, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh). Người sử dụng khoản Telegram tên “S” tháo rời 02 khẩu súng, đóng gói cùng với 06 viên đạn bằng kim loại và 02 viên đạn có đầu đạn bằng cao su, thuê dịch vụ giao hàng chuyển đến chỗ ở cho Ng và nhận 9.500.000 đồng tiền mua súng và đạn của Ng. Khi biết Ng đã nhận được súng và đạn, người sử dụng tài khoản Telegram tên “S” gửi video hướng dẫn, để Ng lắp ráp lại 02 khẩu súng và còn dư 01 lò xo và 01 ổ quay bằng kim loại của súng. Sau đó, Ng đã 02 lần bán lại 02 khẩu súng và 06 viên đạn cho Nguyễn Hoàng T1 và Đặng Trần Nhật H, cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Trần Trung Ng nhờ Phạm Văn T bán 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng kim loại màu đen có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA cùng 06 viên đạn bằng kim loại, giá 6.500.000 đồng, Ng sẽ trả công cho T 1.000.000 đồng. T sử dụng tài khoản facebook tên “Phạm Văn T” của T đăng bài vào nhóm facebook tên “nhóm Zp5 sky r8 thể thao & caosu độ?” rao bán khẩu súng và 06 viên đạn này, giá 6.500.000 đồng, thì Đặng Trần Nhật H nhắn tin với T đồng ý mua súng và đạn giúp cho Nguyễn Hoàng T1, để làm kỷ niệm, nên T nhắn tin báo cho Ng là đã có người đồng ý mua súng và đạn, giá 6.500.000 đồng. Vì vậy, Ng hẹn giao súng và đạn cho H vào ngày 10/9/2024, tại khu vực trước nhà số 65/A ấp MH 1, xã TX, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 18 giờ 50 phút ngày 10/9/2024, H điều khiển xe máy điện 59TA-215.XX chở T1 đi mua súng và đạn của Ng như đã thỏa thuận, sau khi Ng giao súng và đạn cho H và T1, T1 đưa 5.500.000 đồng cho Ng, còn H sử dụng tài khoản 0602350641XX tại Ngân hàng Sacombank của H chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản 03370310XX tại Ngân hàng MB của T, theo yêu cầu của Ng (đây là tiền công bán súng Ng trả cho T theo thỏa thuận), Ng thu lợi 500.000 đồng. Sau đó, H và T1 mang theo khẩu súng và 06 viên đạn bằng kim loại đi chơi cùng 02 người bạn (một người tên T3, còn một người không nhớ tên, không rõ lại lịch) tại tỉnh BP. Trong thời gian đi chơi với nhau, T3 mượn súng của T1 bắn thử 03 viên đạn bằng kim loại là đạn của T3 mang theo; H nhặt lại 03 vỏ đạn bằng kim loại, để cất giữ; còn lại 12 viên đạn bằng kim loại T3 cho H; ngoài ra, T3 cho T1 01 bộ phận của thân súng có chữ MADE IN CHINA, để thay thế khi súng bị hỏng. Trên đường trở về tỉnh LA, T1 làm thất lạc 06 viên đạn bằng kim loại, T1 đưa súng cho H và 01 bộ phận của thân súng có chữ MADE IN CHINA cho H cất giấu cùng với 12 viên đạn bằng kim loại còn lại tại chỗ ở của H (Phòng số, nhà trọ Ô, tổ H, khu phố KĐ, thị trấn CG, tỉnh LA).
Lần thứ hai: Ngày 23/9/2024, Ng nhắn tin vào khoản Zalo tên “H” của H, H bán 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng bằng kim loại, báng súng màu đen, nhưng H chưa đồng ý mua. Đến ngày 28/9/2024, Ng tiếp tục gửi tin nhắn, gửi video hình ảnh của khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng bằng kim loại, báng súng màu đen cho H xem và hứa sẽ cho H nợ tiền mua súng, nên H đồng ý mua với giá 3.500.000 đồng, Ng đồng ý bán. Đến 20 giờ ngày 28/9/2024, H điều khiển xe máy điện biển số 61CA-042.XX đến khu vực trước nhà số 64/X ấp MH 3, TX, HM, Thành phố Hồ Chí Minh để mua súng của Ng. Tại đây, Ng đưa súng cho H và H sử dụng tài khoản 0602350641XX tại Ngân hàng Sacombank của H chuyển 1.160.000 đồng vào tài khoản 1903210399XX tại Ngân hàng MBbank của Ng và đưa 140.000 đồng cho Ng, để trả tiền mua súng, còn lại 2.200.000 đồng Ng cho H nợ. Sau đó, H cất giữ súng tại chỗ ở của H (Phòng số X, nhà trọ Ô, tổ H, khu phố KĐ, thị trấn CG, tỉnh LA). Đến ngày 30/9/2024, H đăng vào nhóm facebook tên “nhóm Z”, để bán lại khẩu súng này cùng với 12 viên đạn bằng kim loại (của T3 cho H trước đó) và 03 vỏ đạn bằng kim loại (nhặt lại sau khi T3 sử dụng súng của T1 bắn trước đó), giá 7.500.000 đồng. Đến ngày 30/9/2024, có người sử dụng khoản facebook tên “Dịch vụ BL” (không rõ lai lịch) nhắn tin cho H, đồng ý mua súng, đạn và vỏ đạn, giá 7.500.000 đồng thỏa thuận địa điểm giao dịch trên đường Nguyễn Văn L, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh, nên H rủ T1 đi cùng thì bị phát hiện như trên.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Trung Ng, Phạm Văn T, Đặng Trần Nhật H và Nguyễn Hoàng T1 khai nhận hành vi như trên, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác.
Vật chứng, đồ vật bị tạm giữ:
01 khẩu súng ngắn ổ quay, không có số súng; 01 khẩu súng ngắn ổ quay, thân súng có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA; 01 thân súng màu đen in chữ MADE IN CHINA; 03 vỏ đạn; 01 hộp giấy in chữ REVOLVER và 01 điện thoại Apple 11 màu đỏ (thu giữ của Đặng Trần Nhật H). Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển 02 khẩu súng (đã giám định là vũ khí quân dụng) đến Kho vật chứng thuộc Phòng Kỹ thuật - Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, để quản lý theo quy định.
01 điện thoại đi động Samsung A15 màu vàng (thu giữ của Nguyễn Hoàng T1); 01 ổ quay kim loại, 01 lò xo, 01 điện thoại đi động POCO X3 Pro, 01 xe mô tô hiệu Honda RSX màu đen biển số 93Y1 - 026.85 do Trần Trung Ng đứng tên chủ sở hữu, sử dụng làm phương tiện phạm tội (thu giữ của Trần Trung Ng) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A94 (thu giữ của Phạm Văn T). Cơ quan An ninh điều tra đã nhập vào Kho vật chứng Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an Thành phố Hồ Chí Minh, để quản lý theo quy định. Tại bản Cáo trạng số 215/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 25/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Các bị cáo Nguyễn Hoàng T1 và Đặng Trần Nhật H về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trần Trung Ng và Phạm Văn T về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Hoàng T1 và Đặng Trần Nhật H, Trần Trung Ng và Phạm Văn T đã thừa nhận các hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Sau khi kiểm tra T bộ lời khai của các bị cáo, cùng với các tài liệu chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ Ng quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng T1 và Đặng Trần Nhật H về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, các bị cáo Trần Trung Ng và Phạm Văn T về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T1 từ 2 đến 3 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật H từ 3 đến 4 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Trung Ng từ 2 đến 3 năm tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 01 năm 06 tháng 2 năm tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Trong phần nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoàng T1 và Đặng Trần Nhật H, Trần Trung Ng và Phạm Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn T tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Hoàng T1 và Đặng Trần Nhật H, Trần Trung Ng và Phạm Văn T đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định:
Thông qua việc môi giới của Phạm Văn T (môi giới cho Ng) và Đặng Trần Nhật H (môi giới cho T1), Trần Trung Ng đã có hành vi bán cho Nguyễn Hoàng T1 01 khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng kim loại màu đen có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA cùng 06 viên đạn bằng kim loại với giá 6.500.000 đồng vào ngày 19/7/2024, cây súng này T1 nhờ H cất giữ. Sau khi thực hiện hành vi mua bán trên Ng hưởng lợi 500.000 đồng, T hưởng lợi 1.000.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 28/9/2024 Trần Trung Ng còn có hành vi bán cho H một khẩu súng Rulo dạng ổ quay, thân súng bằng kim loại, báng súng màu đen với giá 3.500.000 đồng, H đã trả cho Ng 1.300.000 đồng, số tiền còn lại nợ Ng chưa trả. Sau đó H rao bán khẩu súng mua của Ng cùng 12 viên đạn (được T3 cho) và 3 vỏ đạn nhặt được với giá 7.500.000 đồng. Khi đang trên đường đi giao súng cùng T1 thì bị tổ tuần tra Công an Phường MS, quận GV phát hiện và bắt giữ. Theo kết luận giám định số 11750/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh số vật chứng thu giữ của Đặng Trần Nhật H được xác định: “01 khẩu súng ngắn ổ quay, không có số súng là loại súng được chế lại để bắn đạn cỡ 5,6 mm, súng còn sử dụng được, bắn thực nghiệm đạn nổ, là vũ khí quân dụng; 01 khẩu súng ngắn ổ quay, thân súng có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA là loại súng được chế lại để bắn đạn cỡ 5,6 mm, súng còn sử dụng được, bắn thực nghiệm đạn nổ, là vũ khí quân dụng. Do đó, đủ cơ sở kết luận Trần Trung Ng và Phạm Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Hoàng T1 và Đặng Trần Nhật H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng đã truy tố các bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người đúng tội. [3] Hành vi của Trần Trung Ng, Phạm Văn T, Đặng Trần Nhật H và Nguyễn Hoàng T1 đã xâm phạm đến việc quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự Nhà nước, nên phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung. [4] Các bị cáo Trần Trung Ng, Đặng Trần Nhật H và Nguyễn Hoàng T1 phạm tội thuộc trường phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: quá trình điều tra và tại phiên tòa Trần Trung Ng, Phạm Văn T, Đặng Trần Nhật H và Nguyễn Hoàng T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo Trần Trung Ng đang là sinh viên nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo. Ngoài ra khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, các cặp bị cáo Ng và T; H và T1 là đồng phạm nhưng hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn; bị cáo T chỉ thực hiện hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng một lần với vai trò là đồng phạm giúp sức cho Ng nên hình phạt bị cáo T cũng nhẹ hơn bị cáo Ng. Bị cáo Ng mua bán trái phép vũ khí quân dụng hai lần; bị cáo H, T1 vừa có hành vi tàng trữ vừa có hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng nhưng mỗi hành vi mới chỉ thực hiện một lần nên hình phạt đối với các bị cáo Ng, H, T1 được áp dụng như nhau là phù hợp.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
+ Đối với điện thoại, xe máy các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
+ Đối với 01 khẩu súng ngắn ổ quay, không có số súng; 01 khẩu súng ngắn ổ quay, thân súng có ký tự 257 MAG, XIAO YUE LIANG, MADE IN CHINA là vũ khí quân dụng nên chuyển Phòng hậu cần - kỹ thuật – Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền.
+ Đối với: 01 (một) thân súng, có ký tự MADE IN CHINA, 03 (ba) vỏ đạn kim loại không thuộc nhóm vũ khí; 01 (một) lò xo bằng kim loại; 01 (một) ổ quay kim loại, có 06 buồng chứa đạn (không có đạn) không thuộc nhóm vũ khí nêu trong Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ nên giao cho Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền.
+ Đối với 01 (một) hộp giấy in chữ REVOLVER không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 cây dũ ba khúc kim loại, 02 viên đạn kim loại đầu đạn bằng cao su, 12 viên đạn kim loại được xác định là vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ nên Cơ quan An ninh điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển cho Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền là có căn cứ.
+ Buộc các bị cáo Trần Trung Ng, Phạm Văn T nộp lại tiền thu lợi bất chính cụ thể: bị cáo Ng nộp lại số tiền 500.000 đồng, bị cáo Phạm Văn T nộp lại số tiền 1.000.000 đồng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Trung Ng 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024. 2. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2024. 3. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2024. 4. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024. 5. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Buộc bị cáo Trần Trung Ng nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000 (năm trăm ngàn) đồng; Buộc bị cáo Phạm Văn T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 (một triệu) đồng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone màu đỏ, đặc điểm: đã qua sử dụng (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đỏ, màn hình bể, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động Samsung A15 màu vàng, đặc điểm: đã qua sử dụng (thực nhận 01 điện thoại di động Samsung màu vàng, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động OPPO A94, đặc điểm: đã qua sử dụng (thực nhận 01 điện thoại di động Oppo kiểu dáng A94, màn hình bể, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động POCO X3, đặc điểm: đã qua sử dụng (bể màn hình, thực nhận 01 điện thoại di động Poco màu xanh, bung lưng, pin phù, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); Xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: không xác định; Số loại: không xác định; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 93Y1-026.XX; SK: RLHJA383XNY125064; SM: JA52E-0469334 (gãy gác chân, không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy in chữ REVOLVER.
Giao Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền đối với: 01 (một) thân súng, có ký tự MADE IN CHINA; 01 (một) lò xo bằng kim loại; 03 (ba) vỏ đạn kim loại; 01 (một) ổ quay kim loại, có 06 buồng chứa đạn (không có đạn). (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/311 ngày 09/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Giao Phòng hậu cần - kỹ thuật – Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền đối với: 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay; 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay, thân súng có ký tự “MADE IN CHINA”. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/3/2025 tại Kho vũ khí – đạn/ Phòng Hậu cần – Kỹ Thuật/ Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Các bị cáo Trần Trung Ng, Phạm Văn T, Đặng Trần Nhật H và Nguyễn Hoàng T1 phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - Cục THADS TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - Trại giam; (4) - Bị cáo; (4) - THAHS TP.HCM; (4) - PV06-CA TP. HCM; (1) -UBND xã nơi bị cáo cư trú; (4) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (28) (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |