- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu g…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2024/HSST Ngày: 25-12-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:
Ông Lương Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
2. Bà Châu Thị Lệ
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Vũ Kim Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 269/2024/HSST ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2024/QĐXXST-HS ngày 09/12/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ; Sinh năm 1993, tại tỉnh Q; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Q; tạm trú: 520/43 đường Q, khu phố M, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: 520/43 đường Q, khu phố M, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc A; sinh năm 1958 (chết) và bà Phạm Thị H, sinh năm 1958; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/8/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ xử phạt 09 năm tù về tội “Giết người”; “Cướp tài sản”. Chấp hành xong ngày 29/01/2016
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 2/2024, Nguyễn Văn Đ ngồi uống cà phê tại một quán trên đường Q, thành phố T (Đ không nhớ địa chỉ cụ thể) thì có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đến nói chuyện và tự giới thiệu là T. Đ nói với T đi làm việc thì bị mất giấy phép lái xe hạng A1. Khi nghe thấy vậy T cho biết có quen biết và hứa giúp Đ làm lại giấy phép lái xe hạng A1, rồi yêu cầu Đ đưa số tiền 200.000 đồng cùng với hình ảnh chụp chân dung và thẻ CCCD gửi qua tài khoản Zalo của T, hẹn sau 10 ngày sẽ có và liên lạc cho Đ đến lấy. Đúng hẹn, Đ quay lại quán cà phê gặp T đưa cho Đ một giấy phép lái xe hạng A1 số 44024200xxxx mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày: 28/12/1993 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp.
Ngày 24/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển số 59V1-24x.xx lưu thông trên đường L, Phường B, quận G thì bị lực lượng tuần tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra. Đ đã đưa ra một giấy phép lái xe hạng A1 số 44024200xxxx mang tên Nguyễn Văn Đ nhằm đối phó với lực lượng Công an thì bị phát hiện và đưa về trụ sở Công an Phường B, quận G làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại bản kết luận giám định số 6607/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Giấy phép lái xe cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) là giả
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng Al số: 44024200xxxx tên Nguyên Văn Đ, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 08/01/2024.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade màu trắng - đỏ - đen, biển sô: 59V1 – 24x.xx; số máy: F27E-0868xxx; số khung: Y-777xxx;
Tại bản cáo trạng số 285/CT-VKS ngày 21/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 (chín) tháng đến 12 tháng tù
Đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng Al số: 44024200xxxx tên Nguyễn Văn Đ, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 08/01/2024 là giả, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi Ngày 24/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển số 59V1-24x.xx lưu thông trên đường L, Phường B, quận G thì bị lực lượng tuần tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra. Đ đã đưa ra một giấy phép lái xe hạng A1 số 44024200xxxx mang tên Nguyễn Văn Đ nhằm để đối phó với lực lượng chức năng đang thi hành công vụ. Tại bản kết luận giám định số 6607/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Giấy phép lái xe cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) là giả. Nguồn gốc giấy phép lái xe trên là do Đ nhờ người đàn ông không rõ lai lịch tên T gợi ý làm thủ tục cấp Giấy phép lái xe mà không cần thiết phải đi học, đi thi theo quy định. Bị cáo đã chi cho đối tượng T 200.000 đồng và hình 04 tấm ảnh 4x6 để có giấy phép lái xe hạng A1 nói trên. Bằng ý thức chủ quan của mình bị cáo biết rõ Giấy phép lái xe nói trên là giả nhưng bị cáo đã cố tình sử dụng để đối phó với cơ quan có thẩm quyền khi bị kiểm tra, đây là hành vi trái pháp luật. Do đó, đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan cơ quan tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã quy kết là đúng người, đúng tội
Xét bị cáo là người có sức khỏe, đã trưởng thành và đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình, biết hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện vì mục đích cá nhân khi bị Cơ quan có thẩm quyền bắt phạt vi phạm về Luật giao thông đường bộ thì xuất trình các giấy tờ được làm giả để đối phó.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính của Cơ quan Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc các giấy tờ khác, gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Xét về nhân thân bị cáo đã từng bị kết án về hành vi giết người cướp tài sản, tuy đã được xóa án tích nhưng trong cuộc sống hàng ngày, bị cáo chưa thể hiện tinh thần tôn T pháp luật, bản thân bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đăng ký cư trú tại một nơi nhưng sinh sống tại một nơi khác mà không đăng ký tạm trú theo luật cư trú mặc dù bị cáo đã được tống đạt lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Do đó, cần phải có một mức án thích đáng với mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục bị cáo sống biết tôi T pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình, nên Hội đồg xét xử áp dụng điểm s để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật Xã Hội Chủ Nghĩa.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh của bị cáo gặp nhiều khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4, Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Đối với đối tượng nam thanh niên tên T không rõ lai lịch khi nào xác minh làm rõ xử lý sau.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade màu trắng - đỏ - đen, biển sô: 59V1 – 24x.xx; số máy: F27E-0868xxx; số khung: Y-777xxx đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ; xét việc giao trả trên là đúng quy định nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng Al số: 44024200xxxx tên Nguyễn Văn Đ, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 08/01/2024 là giả, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Bị cáo, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) tháng tù .
Thời hạn từ tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
+ Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng Al số: 44024200xxxx tên Nguyễn Văn Đ, cấp ngày 08/01/2024
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Trại giam nơi giam bị cáo; - Cơ quan Thi hành án dân sự quận Gò Vấp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Quốc Việt |