- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Phạm An T (tên gọi khác: Toại Điếc) 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2023/HSST Ngày 15/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ T phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Anh Thư.
- Bà Tạ Thị Thà.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Thư ký Tòa ¸n nh©n d©n quËn H, Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 326/2023/TLST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 12 năm 2023; đối với:
1/ Bị cáo: Phạm An T (tên gọi khác: Toại Điếc), sinh năm 1977; Giới tính: Nam; HKTT: Phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Tổ 15, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm An Ninh (đã chết) con bà Võ Thị Nhuần, sinh năm 1949; bị cáo là con duy nhất; Vợ: Vũ Minh Ngọc, sinh năm 1978; Có 03 con, con lớn sinh năm 2003 con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền sự: Chưa có, Tiền án: Có 01 tiền án. Theo danh chỉ bản số 526 do Công an quận H lập ngày 04/8/2023.
- Bản án số 369 ngày 18/9/1997, TAND quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt xử phạt 36 tháng tù về tội “Hiếp dâm” . Ra trại ngày 01/02/2000 (chưa được xóa án tích).
Nhân Thân: Bản án số 430/HSST ngày 28/9/1995, TAND quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ra trại ngày 28/6/1996 (đã xóa án tích.)
Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
2/ Bị hại: Anh Trần Tuấn A, sinh năm 1980 (đã chết)
Trú tại: Tổ 2, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Chị Cao Thị H, sinh năm 2001 (Vợ anh Tuấn A); vắng mặt Trú tại: Tổ 2, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Viện kiếm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố:
Ngày 29/03/2023, sau khi tổ chức sinh nhật, anh Nguyễn Thanh Hà (sinh năm 1972, HKTT: Số 9 ngõ 270 G, H, Hà Nội) đã mời nhóm bạn của mình (trong đó có Phạm An T) đến quán cà phê hát cho nhau nghe ở số 154 ngõ 24 K, G, H, Hà Nội do chị Bùi Thị Thắm (sinh năm 1970, HKTT: TT Công ty phế liệu, ngõ 658 T, G, H, Hà Nội) làm chủ quán để hát karaoke và uống bia. Sau khi đến quan, khoảng 15 phút thì anh Hà dùng điện thoại gọi điện mời anh Trần Tuấn A (sinh năm 1980, HKTT: Tổ 2 T, H, Hà Nội) và khoảng 30 phút sau, anh Trần Tuấn A đi một mình vào quán, khi đến anh Tuấn A đã có biểu hiện say rượu. Tại đây, anh Tuấn A ngồi cạnh T. Quá trình uống bia, giữa anh Tuấn A và T xảy ra mâu thuẫn qua lời nói, nguyên nhân do anh Tuấn A có nói nhiều lời lẽ khó nghe, văng tục. Do T đã uống rượu từ trước nên khi nghe anh Tuấn A nói đã cảm thấy bực tức nên xảy ra to tiếng cãi chửi nhau với anh Tuấn A. T túm vào người anh Tuấn A và dùng tay, chân đấm đá. Khi những người có mặt can ngăn, đẩy anh Tuấn A đi ra cửa quán, đẩy T đứng ở phía trong quán thì T cầm 01 cốc thủy tinh (ở bàn trong quán), chạy vòng sang cửa ngách bên phải cạnh quán tiến lại gần vị trí anh Tuấn A đứng, T ném mạnh cốc thủy tinh trúng vào mặt anh Tuấn A làm cốc thủy tinh bị vỡ. Ngay sau đó anh Nguyễn Thanh Hà, chị Thắm can ngăn, đẩy T đi ra khỏi quán và sau đó T lấy xe máy rời đi. Anh Tuấn A được chị Thắm giữ lại trong quán lau vết thương và sau đó ra trình báo sự việc với Công an phường Giáp Bát.
Cơ quan CSĐT đã phối hợp cùng Viện KSND tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ các mảnh thủy tinh vỡ, rơi trên vỉa hè (nghi là mảnh vỡ của cốc uống bia bị vỡ).
Sau khi xảy ra sự việc, anh Trần Tuấn A đã tự đến khám thương tại Bệnh viện Bạch Mai. Thương tích của anh Tuấn A gồm: 01 vết thương môi trên (P) KT: 02x01cm, bờ sắc, đáy bẩn; 01 vết thương cằm (P) KT: 0,5x0,5cm, bờ sắc gọn; 01 vết thương má (P) KT: 0,5x0,5cm, đáy nông (theo Bệnh án số S01/26 ngày 30/3/2023 của Bệnh viện Bạch Mai).
Khoảng 1 tháng sau khi sự việc xảy ra, ngày 29/4/2023, anh Trần Tuấn A bị tử vong. Cơ quan CSĐT đã tiến hành thu thập bệnh án của anh Tuấn A tại Bệnh viện Bạch Mai và ghi lời khai của người nhà anh Tuấn A xác định nguyên nhân chết của anh Tuấn A, xác định nguyên nhân chết của anh Tuấn A là do anh Tuấn A có nhiều tiền sử bệnh tật, không liên quan đến hành vi của Phạm An T nêu trên, do đó, hành vi của T không phải là nguyên nhân dẫn đến hậu quả anh Tuấn A bị tử vong.
Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 893/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Trung tâm pháp y Hà Nội xác định phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Tuấn A (dựa trên hồ sơ bệnh án do BV Bạch Mai cung cấp) xác định anh Tuấn A bị tổn hại 14% sức khỏe; Cơ chế hình thành thương tích do vật sắc có cạnh gây ra.
Tại cơ quan điều tra, Phạm An T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Ngày 04/4/2023, Phạm An T đã tự nguyên bồi thường số tiền 15 triệu đồng cho anh Trần Tuấn A, đại diện gia đình anh Tuấn A đã nhận số tiền này, không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho T.
Đối với chiếc cốc thủy tinh T lấy trong quán cafe, đây là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Thắm (chủ cửa hàng cafe tại số 154 ngõ 24 Kim Đồng); Chiếc cốc do chị Thắm mua và sử dụng từ lâu, hiện giá trị không đáng kể, chị Thắm không yêu cầu đề nghị T bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại bản cáo trạng số 306/CT-VKS-HM, ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm An T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
[2] Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm An T khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kiểm sát viên nắm quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tích chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên ®Ò nghÞ Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; điểm b, s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo:
Xử phạt: Bị cáo Phạm An T từ 24 tháng đến 28 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy 01 gói giấy niêm phong bên trong các mảnh thủy tinh vỡ;
Trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận được bồi thường không có yêu cầu gì, nên không xét; về hình phạt đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không tranh luận với Kiểm sát viên.
[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản thu giữ, niêm phong tang vật; Lời khai bị hại; lời khai người làm chứng; bản kiểm điểm và lời khai của bị cáo; Kết luận giám định pháp y thương tích số 893/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Trung tâm pháp y Hà Nội xác định phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Tuấn A (dựa trên hồ sơ bệnh án do BV Bạch Mai cung cấp) xác định anh Tuấn A bị tổn hại 14% sức khỏe; Cơ chế hình thành thương tích do vật sắc có cạnh gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác thể hiện, đủ sơ sở để kết luận:
Khoảng 16 giờ ngày 29/3/2023, tại khu vực quán cà phê số 154 ngõ 24 phố Kim Đồng, phường Giáp Bát, quận H, Thành phố Hà Nội. Phạm An T và anh Trần Tuấn A có mâu thuẫn lời qua tiếng lại với nhau và T đã dùng cốc bằng thủy tinh có sẵn trong quán (Loại cốc thường dùng để uống bia, có quai) ném một phát trúng vùng mặt anh Trần Tuấn A làm cốc bị vỡ, anh Tuấn A bị tổn thương cơ thể là 14%.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm An T đã đủ yếu tố cấu thành “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương; Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo cốc thủy tinh gây thương tích cho anh Trần Tuấn A; hậu quả dẫn đến anh Trần Tuấn A bị thương tích tổn hại sức khỏe 14%. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử và tuyên mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo trước khi phạm tội lần này, nhân thân chưa có tiền sự; có 01 tiền án đã được xóa án tích; 01 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này là tái phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã bồi thường bồi thường cho bị hại; bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Biện pháp tư pháp: Đối với 01 gói giấy niêm phong bên trong các mảnh thủy tinh vỡ; là tang vật của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; do vậy khi giải quyết cần căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định, cần:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy niêm phong bên trong các mảnh thủy tinh vỡ;
Các vấn đề khác:
- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của bị hại chị Cao Thị H là vợ anh Trần Tuấn A xác nhận đã được bồi thường và không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với chiếc cốc thủy tinh T lấy trong quán cafe là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Thắm, chị Thắm không yêu cầu đề nghị gì khác, nên không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo: Phạm An T (tên gọi khác: Toại Điếc) 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
2. Biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy niêm phong bên trong chứa các mảnh thủy tinh vỡ;
Toàn bộ vật chứng nêu trên, đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận H, Thành phố Hà Nội, theo Phiếu nhập kho vật chứng, tài sản số NK2024-0048, ngày 27/11/2023.
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết;
| Nơi nhận: - VKSND quận H, TP. Hà Nội; - Công an quận H, TP. Hà Nội; - Chi cục THADS quận H, TP. Hà Nội; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Phương |