- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc Long và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Long phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2023/HS-ST Ngày: 28/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh
Bà Huỳnh Thị Minh Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Kiểm sát viên
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 301/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 322/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:
1) Họ và tên: Lê Ngọc L, sinh năm 1986, tại Đồng Nai.
Hộ khẩu thường trú: 151/4, khu phố 3, phường Thống Nhất, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: khu phố 4, phường Thống Nhất, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Tý On, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Trần Thị Xuân, sinh năm 1960;
Tiền án:
+ Tại bản án số 529/2013/HSST ngày 27/8/2013, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Tại bản án số 216/2016/HSST ngày 07/4/2016, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Tại bản án số 295/2017/HSST ngày 27/7/2017, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Tại bản án số 488/2019/HSST ngày 18/10/2019, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Tại Quyết định số 4496/QĐ-UBND ngày 17/12/2010, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Biên Hòa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy’.
+ Tại Quyết định số 400336/QĐ-XPHC ngày 23/02/2013, bị Công an phường Tam Hiệp, TP. Biên Hòa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản.
Bị bắt: 03/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5 – Công an tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
2) Họ và tên: Phạm Trung H (Dẹo), sinh năm 1989, tại Đồng Nai.
Hộ khẩu thường trú: 35/61, khu phố 4, phường Thống Nhất, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn Bé, sinh năm 1963 và bà Lương Thị Thanh Hằng, sinh năm 1969;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Tại bản án số 28/2008/HSST ngày 15/01/2008, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
+ Tại Quyết định số 1678/QĐ-UBND ngày 24/6/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Biên Hòa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy’.
+ Tại Quyết định số 6693/QĐ-UBND ngày 28/11/2013, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Biên Hòa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian là 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy’.
Bị bắt: 03/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5 – Công an tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
+ Bị hại: Chị Võ Thị Y, sinh năm 1990.
Địa chỉ: tổ 19, khu phố 3A, phường Trảng Dài, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Chị Yến có đơn xin vắng mặt).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan A, sinh năm 1990.
Địa chỉ: 30/3, khu phố 2, phường Long Bình, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Ngọc Long và Phạm Trung Hiếu là bạn bè với nhau, cả hai đều nghiện ma túy và không có nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, Long và Hiếu đã cùng nhau đi trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ 07 phút, ngày 12/01/2023, Long điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vairio, biển số 60F4-068.78 chở Phạm Trung Hiếu đi đến nhà bạn chơi, khi đi đến dãy phòng trọ thuộc tổ 19, khu phố 3A, phường Trảng Dài, TP. Biên Hòa, Long thấy trong phòng trọ số 4 (tính từ bên ngoài vào), do chị Võ Thị Yến thuê trọ, phòng mở cửa, trên bàn làm việc có 02 chiếc điện thoại di động, trong phòng không có người, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, Long đi bộ vào phòng, còn Hiếu quay đầu xe hướng ra phía đường đứng cảnh giới và đợi Long. Long nhanh chóng lấy 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A31 và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 (loại 128Gb) của chị Yến, sau đó cầm trên tay rồi đi ra ngoài và lên xe do Hiếu điều khiển rời đi. Lúc này chị Yến từ phía trong đi ra ngoài thì nhìn thấy Long cầm điện thoại rời đi nên đã truy hô, tuy nhiên Hiếu đã điều khiển xe chở Long tẩu thoát. Khi chạy được khoảng 200m, nhận thấy không có người truy đuổi nên Hiếu dừng xe để Long điều khiển xe. Long và Hiếu mang 02 chiếc điện thoại trộm cắp được đến tiệm điện thoại "Phan Anh" địa chỉ tại 30/3, khu phố 2, phường Long Bình, TP. Biên Hòa bán cho anh Phan Anh chủ cửa hàng. Anh Phan Anh không biết 02 chiếc điện thoại trên là tài sản do trộm cắp mà có nên đã đồng ý mua với giá 2.000.000đ (hai triệu đồng), số tiền này Long và Hiếu đã tiêu xài hết. Sự việc xảy ra, chị Yến đã trình báo Công an phường Trảng Dài lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa xử lý theo quy định.
Vật chứng của vụ án:
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 (loại 128Gb) là tài sản bị trộm cắp. Sau khi mua lại chiếc điện thoại này của Long và Hiếu, chủ tiệm điện thoại anh Phan Anh đã bán cho một người khách (không rõ nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được.
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A31 là tài sản bị trộm cắp đã được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa thu hồi trả lại cho bị hại chị Võ Thị Yến.
+ 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60F4-068.78 do Phạm Trung Hiếu đứng tên chủ sở hữu, là phương tiện Hiếu và Long sử dụng để phạm tội.
+ 01 USB chứa đoạn video do camera an ninh ghi lại hình ảnh Long và Hiếu thực hiện hành vi phạm tội (Lưu hồ sơ vụ án).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Biên Hòa kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 (loại 128Gb) trị giá 8.400.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Oppo A31 trị giá 1.125.000 đồng. Tổng giá trị định giá là 9.525.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị hại chị Võ Thị Yến yêu cầu các bị cáo Lê Ngọc Long và Phạm Trung Hiếu bồi thường chiếc điện thoại Iphone 11 theo giá trị định giá của Hội đồng định giá. Đối với chiếc điện thoại di động Oppo A31; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa đã thu hồi trả lại cho chị Yến, chị Yến không yêu cầu bồi thường.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Anh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 312/CT-VKSBH ngày 25/5/2023 của Viện kiểm Sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố:
+ Bị cáo Lê Ngọc Long về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
+ Bị cáo Phạm Trung Hiếu về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
+ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Long mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Trung Hiếu mức án từ 12 tháng đến 16 tháng tù.
Đồng thời tuyên buộc các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Võ Thị Yến số tiền 8.400.000 đồng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Ngọc Long, Phạm Trung Hiếu đã khai nhận vào khoảng 12 giờ 07 phút, ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại phòng trọ số 04 dãy phòng trọ thuộc tổ 19, khu phố 3A, phường Trảng Dài, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai lợi dụng sự sơ hở của chị Võ Thị Yến các bị cáo đã có hành vi trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 (loại 128Gb) và 01 chiếc điện thoại di động Oppo A31; sau đó thì bị bắt giữ xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Biên Hòa kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 (loại 128Gb) trị giá 8.400.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Oppo A31 trị giá 1.125.000 đồng. Tổng giá trị định giá là 9.525.000 đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Ngọc Long đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Trung Hiếu phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên các bị cáo đã chủ động cùng nhau thực hiện việc trộm cắp tài sản và sử dụng xe mô tô để làm phương tiện phạm tội; bị cáo Long là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Hiếu tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực khi bị cáo Long thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Hiếu là người điều khiển xe mô tô rồi cùng nhau tẩu thoát. Do vậy, với vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét vai trò của các bị cáo là ngang nhau khi quyết định mức hình phạt.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời cũng chỉ vì lười lao động nên các bị cáo đã có hành vi trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, không những làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương; ngoài ra, bị cáo Long đã từng có 04 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới thuộc tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; các bị cáo Long, Hiếu cũng từng có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt tù và bị xử lý vi phạm hành chính tại địa phương. Qua đó, thể hiện các bị cáo là đối tượng liều lĩnh, có thái độ xem thường pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo là rất kém. Do vậy, đối với các bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm mục đích giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho các bị cáo.
Đối với anh Phan Anh là người mua 02 chiếc điện thoại của bị cáo Long và Hiếu; khi mua anh Phan Anh không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc các bị cáo Lê Ngọc Long, Phạm Trung Hiếu phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Võ Thị Yến số tiền 8.400.000 đồng. Chia phần, cụ thể:
+ Bị cáo Lê Ngọc Long phải bồi thường số tiền 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
+ Bị cáo Phạm Trung Hiếu phải bồi thường số tiền 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
- Anh Phan Anh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 60F4-068.78. Tình trạng: đã qua sử dụng, số khung: MH1JM5166MK988418, số máy: JM51E1988377 do Phạm Trung Hiếu đứng tên chủ sở hữu, là phương tiện mà các bị cáo sử dụng để phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106; Điều 136, các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Long phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/02/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106; Điều 136, các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Phạm Trung Hiếu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Trung H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/02/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 586; Điều 587 của Bộ luật dân sự năm 2015.
+ Buộc bị cáo Lê Ngọc Long phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Võ Thị Yến số tiền 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
+ Buộc bị cáo Phạm Trung Hiếu phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Võ Thị Yến số tiền 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 60F4-068.78. Tình trạng: đã qua sử dụng, số khung: MH1JM5166MK988418, số máy: JM51E1988377.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
4. Về án phí:
+ Các bị cáo Lê Ngọc Long, Phạm Trung Hiếu phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
+ Bị cáo Lê Ngọc Long phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
+ Bị cáo Phạm Trung Hiếu phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai - VKSND TP. Biên Hòa; - Công an TP. Biên Hòa; - Cơ quan Thi hành án hình sự TP. Biên Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa; - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ (4); - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phước Tiến |