- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18/7/2022 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Minh.
2. Bà Lê Thị Gắn.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2022, về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Kim T, sinh năm 1987. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, khu phố L, thị trấn V, huyện G, tỉnh T.
2. Bị đơn: Anh Hà Quốc P, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn V, huyện G, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 08/02/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị Kim T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang vào năm 2012. Sau khi cưới anh chị sinh sống ở nhà cha mẹ ruột anh P khu phố 1, thị trấn V, huyện G, tỉnh T. Quá trình chung sống của anh chị hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P có người phụ nữ khác, chị có bắt gặp và có đến gặp người phụ nữ này để trao đổi, sau đó anh P và người phụ nữ này bỏ đi nơi khác sống như vợ chồng. Từ thời điểm đó đến nay chị và anh P không còn sống chung và anh chị cũng không có liên hệ hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh Hà Quốc P.
- Về con chung: Anh chị có 03 con chung tên Hà Quốc C, sinh ngày 05/5/2008; Hà Ngọc C1, sinh ngày 04/9/2011 và Hà Ngọc M, sinh ngày 9/9/2014. Hiện nay, các con chung đang sống với chị. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hà Quốc P vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Thị Kim T cho chị T được ly hôn với anh Hà Quốc P.
Về con chung: Giao con chung tên Hà Quốc C, sinh ngày 05/5/2008; Hà Ngọc C1, sinh ngày 04/9/2011 và Hà Ngọc M, sinh ngày 09/9/2014 cho chị Thạch Thị Kim T được tiếp tục nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thạch Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hà Quốc P vắng mặt không lý do dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh P tham gia phiên tòa lần thứ hai, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông không có ý kiến về việc vắng mặt nguyên đơn chị Thạch Thị Kim T, bị đơn anh Hà Quốc P và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P kết hôn vào năm 2008, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2012, quyển số 01/2012 ngày 06/4/2012 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị T, căn cứ vào lời khai của chị T và kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của vợ chồng chị đã phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2022, nguyên nhân do anh P có người phụ nữ khác, chị có bắt gặp và có đến gặp người phụ nữ này để trao đổi, sau đó anh P và người phụ nữ này bỏ đi nơi khác sống như vợ chồng. Từ thời điểm đó đến nay chị và anh P không còn sống chung và anh chị cũng không có liên hệ để trao đổi hàn gắn tình cảm. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh P không đến Tòa án, không phản đối yêu cầu ly hôn của chị T, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xem như anh P mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn như chị T trình bày, nay anh P không muốn hàn gắn tình cảm và cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Từ những tình tiết nêu trên, xác định mâu thuẫn của vợ chồng chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh P là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị T và anh P có 03 con chung tên Hà Quốc C, sinh ngày 05/5/2008; Hà Ngọc C1, sinh ngày 04/9/2011 và Hà Ngọc M, sinh ngày 09/9/2014. Xét thấy, hiện nay các cháu C, cháu C1, cháu M đang sống với chị T và tại biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2022 các cháu C, cháu C1, cháu M cũng có nguyện vọng muốn sống chung với chị T. Anh P không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chứng tỏ anh P không quan tâm, chăm sóc con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu C, cháu C1, cháu M theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị T là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, nên giao con chung tên Hà Quốc C, sinh ngày 05/5/2008; Hà Ngọc C1, sinh ngày 04/9/2011 và Hà Ngọc M, sinh ngày 09/9/2014 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con và anh P cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử nhận thấy anh P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T chưa có yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật. Nếu sau này chị T, anh P có tranh chấp về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con sẽ khởi kiện bằng vụ án khác sau ly hôn.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về án phí: Chị T có yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thạch Thị Kim T, cho chị T được ly hôn với anh Hà Quốc P.
2. Về con chung: Giao con chung tên Hà Quốc C, sinh ngày 05/5/2008; Hà Ngọc C1, sinh ngày 04/9/2011 và Hà Ngọc M, sinh ngày 09/9/2014 cho chị Thạch Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Hà Quốc P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Thạch Thị Kim T chưa có yêu cầu.
Chị Thạch Thị Kim T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Hà Quốc P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: Chị Thạch Thị Kim T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) đồng theo biên lai T số 0007681 ngày 21/3/2022 của C1 cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên xem như chị đã nộp xong án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.GCĐ; - CC.THADS H.GCĐ; - UBND TT. Vàm Láng; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Duy Linh |