vanban.org

Bản án 313/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 16/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Tố tụng hình sự năm 2015; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 26-4-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Buộc cáo Võ Tuấn A có nghĩa vụ ồi thường thiệt hại về tài sản cho các hại với tổng số tiền là 2.886.883.235 đồng, cụ thể từng hại như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tuấn A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? luật Tố tụng hình sự năm 2015; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 26-4-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 351 Bộ luật Dân sự; Điều 355 Bộ luật Dân sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 313/2021/HS-PT
Ngày: 16 - 7 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Long

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án của Tòa án

nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.

Vào ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng

Nam xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 352/2021/TLPT-HS ngày 03

tháng 6 năm 2021 đối với cáo Võ Tuấn A, do có kháng cáo của Người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần X Việt Nam đối

với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 26-4-2021 của Tòa án nhân

dân tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Võ Tuấn A (tên gọi khác: T); sinh ngày 26 tháng 10 năm 1981 tại thành

phố H, tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thành phố H, tỉnh

Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe

d ch vụ; trình độ văn hóa: lớp 02/12; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn

giáo: không; con à Đinh Th A, sinh năm 1953 (cha không rõ); có vợ là

Nguyễn Th Diệu H, sinh năm 1986 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2008,

con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

Ngày 01/01/1998, Công an th xã H xử phạt vi phạm hành chính về

hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

Ngày 20/9/2000, Tòa án nhân dân th xã H xử phạt 15 tháng tù về tội

“Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 14/HS-ST. Ngày 03/11/2000, chấp hành xong khoản án phí hình sự, dân sự sơ thẩm. Ngày 06/3/2001, ồi thường xong về dân sự cho người hại. Ngày 28/9/2001, chấp hành xong án phạt tù về nơi cư trú theo giấy chứng nhận số: 101/GCN ngày 28/9/2001 của Trại giam A.

Ngày 02/8/2013, Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 15 tháng tù về

tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 35/2013/HS-ST, không ồi thường dân sự. Ngày 12/9/2013, chấp hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 30/4/2014, chấp hành xong án phạt tù về nơi cư trú theo giấy chứng nhận số: 211/GCN ngày 30/4/2014 của Trại giam A.

B cáo

ắt tạm giữ từ ngày 24/01/2020, chuyển tạm giam từ ngày

02/02/2020; có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Lê Bá N, sinh năm 1973 và à Ngô Th Q, sinh năm

1976; đ a chỉ: thành phố H, tỉnh Quảng Nam; à Q có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại cổ phần X Việt Nam (X); đ a chỉ: Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn P, chức vụ: Chuyên viên

tố tụng- Khối quản lý và tái cấu trúc tài sản X; đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm

1957 và à Trần Th L, sinh năm 1957; đ a chỉ: tỉnh Quảng Nam; có văn ản trình ày và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ngoài ra trong vụ án còn có những người bị hại, những người có quyền

lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nợ nần không có tiền tiêu xài cá nhân và các chủ nợ đòi tiền nên

Võ Tuấn A đã nảy sinh ý đ nh trộm cắp tài sản. Lợi dụng đêm khuya vắng, không có người trông coi, Võ Tuấn A đã lén lút đột nhập vào nhà của các hại trộm cắp tài sản. Trong các ngày 18/7/2018 và ngày 19/01/2020, qua điều tra xác đ nh được Võ Tuấn A đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của các hại tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam gồm tiền, vàng, USD với tổng giá tr tài sản trộm cắp là 5.335.933.235 đồng, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Tối ngày 18/7/2018, Võ Tuấn A phát hiện nhà ông Lê Bá N

tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam khóa cửa ngoài, không có ai ở nhà. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, Võ Tuấn A mang theo 01 cây xà eng (bằng kim loại hình trụ tròn, dài khoảng 50cm, đường kính khoảng 02cm, 02 đầu dẹp), 01 đôi găng tay len màu đen, 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1202 (vỏ màu đen, bên

trong gắn thẻ sim 0935294216) và chân mang đôi dép lào (dép quai xỏ ngón) đi

ộ đến nhà ông Lê Bá N. Võ Tuấn A đột nhập vào nhà rồi lên cầu thang đến

phòng ngủ tầng 2; sau đó dùng xà eng cạy phá khóa cửa gỗ phòng ngủ, đột

nhập vào ên trong. Võ Tuấn A ật sáng đèn pin điện thoại, tiến đến lục soát tủ

quần áo và các ngăn tủ àn nhưng không tìm thấy tài sản. Võ Tuấn A đến tủ gỗ

đặt ngay góc phòng ngủ, dùng xà eng cạy phá khóa cửa tủ, phát hiện ên trong

có một “Két sắt”. Võ Tuấn A dùng xà eng đục phá cửa két sắt lấy toàn ộ tiền

vàng ở trong “Két sắt”.

Sau đó, Võ Tuấn A lấy một túi a lô màu đen trong phòng ngủ, mang đến

v trí để két sắt, để chiếc điện thoại Nokia 1202 lên giường rồi lấy tài sản trong

“Két sắt” ỏ vào a lô mang đi xuống tầng 1, đi ra khỏi nhà ằng cửa hông ên

trái ngôi nhà (theo hướng từ ngoài nhìn vào) và thoát ra theo lối đột nhập vào,

lúc này Võ Tuấn A ỏ quên chiếc điện thoại Nokia 1202 ở trên giường. Toàn ộ

tài sản trộm có được, Võ Tuấn A mang về giấu trên phòng kho sân thượng Khu

chung cư L thuộc phường C, thành phố H (nơi Võ Tuấn A cư trú). Ba ngày sau,

Võ Tuấn A mang toàn ộ số tài sản trộm được vào án cho 01 tiệm vàng ở Quận

1, Thành phố Hồ Chí Minh (do đã lâu Võ Tuấn A không nhớ tên cửa tiệm và địa

chỉ cụ thể) được tổng số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm triệu đồng).

Võ Tuấn A sử dụng 800.000.000 đồng trả tiền nợ (tiền gốc và tiền lãi) cho một

người tên H (khoảng 35 tuổi, người Miền Bắc, trước đây thuê nhà trọ sống trên

đường O, thành phố Đà Nẵng, không xác định được lai lịch), số tiền còn lại Võ

Tuấn A sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và mang trả nợ cho một số người

khác.

Tại Kết luận đ nh giá tài sản số: 58/KL-ĐGTS ngày 06/8/2018 của Hội

đồng đ nh giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy an nhân dân thành phố H kết

luận: 40 lượng vàng SJC, vòng đeo cổ ằng vàng loại 24K, 03 lắc đeo tay ằng

vàng loại 18 K mỗi lắc 02 chỉ; nhẫn cưới ằng vàng loại 18K, có đính 03 hột

xoàn kích thước 01 ly loại 1,5 ly; 02 nhẫn đeo ằng vàng loại 18K, mỗi cái 0,5

chỉ. Tổng giá tr tài sản là 1.526.578.500 đồng (BL 14).

Tại Kết luận đ nh giá tài sản số: 46/CV-HĐTĐ ngày 06/01/2021 của Hội

đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Nam kết luận: Một “Két

sắt” nhãn hiệu Sanzil, kích thước 62cm x 48cm x 47,5cm, loại có ánh xe, kết

cấu ằng kim loại, nặng 110 kg, thời điểm mua vào cuối năm 2015, thời điểm

đ nh giá ngày 18/7/2018 giá tr 3.450.000 đồng (BL 04, 05).

Như vậy, xác đ nh vào ngày 18/7/2018, Võ Tuấn A có hành lén lút đột

nhập vào nhà ông Lê Bá N đập phá “Két sắt” tr giá 3.450.000 đồng và trộm cắp

tài sản của vợ chồng ông Lê Bá N có giá tr là: 1.526.578.500 đồng (Một tỷ, năm

trăm hai mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi tám nghìn, năm trăm đồng).

Vụ thứ hai: Vào khoảng 01 giờ ngày 19/01/2020, Võ Tuấn A mang theo

02 thanh kim loại hình trụ tròn, đường kính 2,1cm, một thanh có chiều dài 58cm

và thanh kim loại còn lại có chiều dài 56,9cm; 01 tuốc nơ vít dài 30,5cm; 01 kìm

cắt kim loại và chiếc điện thoại Iphone 5S mua lúc chiều, đi ộ đến Văn phòng

Công chứng L (, thành phố H, tỉnh Quảng Nam). Võ Tuấn A trèo qua rào chắn trước Văn phòng, dùng thanh kim loại mang theo cạy khóa cửa kính rồi đột nhập vào Văn phòng, mở đèn pin điện thoại, lục tìm trong các hộc àn và ngăn kéo àn ở tầng 1 nhưng không phát hiện tài sản. Võ Tuấn A đến khu vực ếp, phát hiện gần một cái àn, đối diện chân cầu thang đi lên tầng 2 có 01 “Két sắt”. Võ Tuấn A sử dụng thanh kim loại cạy phá ung cửa “Két sắt” ra nhưng không tìm thấy gì. Võ Tuấn A lên tầng 2, dùng xà eng mang theo cạy phá khóa cửa phòng kho vào ên trong, phát hiện tại đây có 01 “Két sắt”. Võ Tuấn A phá “Két sắt”, phát hiện ên trong có tài sản gồm: Vàng, USD và tiền Việt Nam đồng. Sau đó, Võ Tuấn A xuống tầng 1, lấy 01 alo màu đen, 01 túi xách màu đen dùng để đựng máy tính Laptop mang lên ỏ tài sản vào (không kiểm đếm tại chỗ rồi mang xuống tầng 1). Trước khi ra về để tránh phát hiện nên Võ Tuấn A đã đến chỗ v trí gắn ộ ghi dữ liệu camera an ninh đặt trên tường ên phải theo hướng từ ngoài vào, dùng tay giật các đầu dây cáp đấu nối vào đầu ghi này và mang về cùng với đôi găng tay, kìm cắt kim loại và tài sản trộm được.

Theo kết quả điều tra và giám đ nh đã xác đ nh được Võ Tuấn A đã có

hành vi đập phá 02 “Két sắt” tr giá 4.756.000 đồng và trộm cắp tài sản tại Văn phòng Công chứng L có tổng giá tr 3.809.354.735 đồng (Ba tỷ, tám trăm lẻ chín triệu, ba trăm năm mươi bốn nghìn, bảy trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Số tiền của Văn phòng Công chứng L là 406.030.000 đồng và tiền của ch Lê Th Dân và những cá nhân gửi cho ch Dân giữ giùm là 3.403.324.735 đồng: 15 lượng vàng loại SJC có giá 651.000.000 đồng; 05 chỉ vàng PNJ có giá 21.825.000 đồng; 109.803 USD có giá tr 2.552.370.735 đồng và số tiền 178.129.000 đồng.

[2] Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 26-4-2021 của

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên ố cáo Võ Tuấn A phạm tội “Trộm

cắp tài sản” và tội “Hủy hoại tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt cáo Võ Tuấn A 14 (Mười bốn) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1

Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt cáo Võ Tuấn A 01 (Một) năm tù, về tội “Hủy hoại tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp uộc cáo Võ Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (Mười lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày

ắt khẩn cấp ngày 24/01/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589

Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc cáo Võ Tuấn A có nghĩa vụ ồi thường thiệt hại về tài sản cho các hại với tổng số tiền là 2.716.883.235 đồng, cụ thể từng hại như sau:

- Bồi thường cho vợ chồng ông Lê Bá N, à Ngô Th Q số tiền là

1.360.028.500 đồng (Một tỷ, ba trăm sáu mươi triệu, không trăm hai mươi tám

nghìn, năm trăm đồng).

- Bồi thường cho Văn phòng Công chứng L số tiền là 76.030.000 đồng

(Bảy mươi sáu triệu, không trăm ba mươi nghìn đồng).

- Bồi thường cho ch Lê Th Dân số tiền là 1.280.824.735 đồng (Một tỷ,

hai trăm tám mươi triệu, tám trăm hai mươi bốn nghìn, bảy trăm ba lăm đồng).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên:

- T ch thu của b cáo Võ Tuấn A 01 (Một) xe ô tô BKS 92A-124.96 do à

Trần Th L (Mẹ vợ) đứng tên đăng ký chủ sở hữu (không kiểm tra chất lượng

bên trong); thanh lý án để giao trả cho b hại ông Lê Bá N, à Ngô Th Q số

tiền 170.000.000 đồng (đã được khấu trừ vào tiền bồi thường), số tiền còn lại

giải ngân cho Ngân hàng X - Phòng giao d ch H (theo Hợp đồng thế chấp số:

110/2018/HĐBĐ/PVB-PGĐ.HA ngày 31/8/2018).

Các loại vật chứng nêu trên, hiện đang quản lý tại Cục Thi hành án dân sự

tỉnh Quảng Nam theo Biên ản giao, nhận vật chứng ngày 23/4/2021.

Ngoài ra ản án còn quyết đ nh về phần trách nhiệm trách nhiệm dân sự,

án phí, quyền kháng cáo và thi hành án.

[3] Kháng cáo:

Ngày 11-5-2021 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng

Thương mại cổ phần X Việt Nam có đơn kháng cáo đề ngh trả lại chiếc xe ô tô

xe ô tô BKS 92A-124.96 do à Trần Th L đứng tên đăng ký chủ sở hữu, cho

Ngân hàng X - Phòng giao d ch H để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho khoản

vay của à L; nếu t ch thu là thiệt hại cho Ngân hàng, ởi tài sản này đã Thế

chấp cho Ngân hàng X (theo Hợp đồng thế chấp số: 110/2018/HĐBĐ/PVB-

PGĐ.HA ngày 31/8/2018), chính Ngân hàng đã trực tiếp chuyển số tiền

399.000.000 đồng cho ên án xe là Công ty cổ phần ô tô H, à L chỉ nộp

161.000.000 đồng tiền mặt; nên à L là người chủ sở hữu tài sản và X là người

đang quản lý hợp pháp tài sản.

Bà Trần Th L có ý kiến do xe ô tô khi mua thì Ngân hàng cho vay tiền để

mua là chủ yếu, số tiền ngân hàng chuyển cho ên án xe là 399.000.000 đồng,

Bà chỉ trả tiền mặt 161.000.000 đồng, nay đã Thế chấp nên phải trả xe để thực

hiện nghĩa vụ ảo đảm cho Ngân hàng, vì đến nay đã hết hạn vay mà gia đình

Bà hiện nay không có khả năng để trả nợ vay ằng tiền mặt; phải giao xe cho

Ngân hàng án trả nợ vay.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn Phụng, đại diện theo ủy quyền của X giữ nguyên đơn

kháng cáo, trình ày lý do kháng cáo là xe ô tô BKS 92A-124.96 không phải là công cụ, phương tiện phạm tội; Tòa án cấp sơ thẩm không đưa vợ chồng à Trần Th L và Nguyễn Quốc H là Chủ sở hữu xe ô tô tô BKS 92A-124.96 vào tham gia tranh tụng là vi phạm thủ tục tố tụng, chưa xem xét đến quyền lợi của X về quyền quản lý hợp pháp tài sản và ưu tiên thanh toán. Nguồn gốc chiếc xe ô tô BKS 92A-124.96 là do à L mua, được BKS 92A-124.96 cho vay hỗ trợ mua bằng cách chuyển thẳng phần lớn tiền cho ên án (hơn 71%); X và à L không có lỗi trong vụ án. Tuy nhiên do cấp phúc thẩm đã đưa à L vào tham gia tố tụng và sự việc cũng rõ ràng, đơn giản nên đề ngh sửa án sơ thẩm mà không cần hủy, tuyên giao trả xe ô tô cho Chủ sở hữu và người quản lý hợp pháp để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng vay vốn, mà đến nay người vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa

có ý kiến: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung vụ án và kháng cáo: Xe ô tô tô BKS 92A-124.96 do à Trần Th L đứng tên Chủ sở hữu và đang được Thế chấp tại X; à Trần Th L không được Tòa án cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Xe ô tô do à L là Chủ sở hữu b Bản án sơ thẩm thu hồi để thanh toán cho b hại, là quyền lợi của à L b ảnh hưởng, đồng thời không đúng theo quy đ nh của pháp luật về Thế chấp tài sản và quyền ưu tiên thanh toán. Kháng cáo của Ngân hàng X là có căn cứ, tuy nhiên nếu chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng và sửa án sơ thẩm thì không đảm bảo quyền được tham gia hai cấp xét xử cho à L; do đó đề ngh hủy phần bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng để xét xử sơ thẩm lại theo quy đ nh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

[1] Về hành vi phạm tội của cáo Võ Tuấn A: Vào tối ngày 18-7-2018

cáo A đã lén lút vào nhà vợ chồng ông Lê Bá N, à Ngô Th Q dùng Xà eng đập phá 01 “Két sắt” có giá tr 3.450.000 đồng và chiếm đoạt vàng, tiền có tổng giá tr theo đ nh giá là 1.526.587.500 đồng. Đến ngày 19-01-2020, cáo tiếp tục lén lút vào Văn phòng Công chứng L, sử dụng thanh kim loại đập phá 02 “Két sắt” có giá tr 4.756.000 đồng và chiếm đoạt vàng, tiền có tổng giá tr theo đ nh giá là 3.809.354.735 đồng. Bản án hình sự sơ thẩm đã xử phạt cáo Võ Tuấn A 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (Một) năm tù về

tội “Hủy hoại tài sản”. Không có kháng cáo, kháng ngh về tội danh và hình

phạt.

[2] Xét kháng cáo của X:

Bản án sơ thẩm xác đ nh Võ Tuấn A phải ồi thường thiệt hại cho vợ

chồng ông Lê Bá N, à Ngô Th Q tổng số tiền là 1.530.028.500 đồng (tài sản

trộm cắp là 1.526.578.500 đồng và giá trị két sắt bị hư hỏng là 3.450.000 đồng)

là có cơ sở. Bản án sơ thẩm đã căn cứ khai nhận của cáo Võ Tuấn A tại Phiên

tòa sơ thẩm “Trong tổng số tiền mua xe ô tô BKS: 92A-124.96 vào tháng 8/2018

do bà Trần Thị L (Mẹ vợ) đứng tên chủ sở hữu có khoảng 170.000.000 đồng là

tiền chiếm đoạt của vợ chồng ông N, bà Q trước đó), từ đó quyết đ nh t ch thu

chiếc xe ô tô ô tô BKS 92A-124.96 thanh lý án để giao trả cho vợ chồng ông

Lê Bá N, à Ngô Th Q số tiền 170.000.000 đồng, đồng thời tuyên uộc cáo

tiếp tục ồi thường số tiền còn lại là 1.360.028.500 đồng. Tuy nhiên, à Trần

Th L không có mặt tham gia tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, đồng thời cả X và

à Trần Th L đều phản đối việc t ch thu xe BKS 92A-124.96 thanh lý án để

giao trả cho b hại, cả hai đều đề ngh trả lại xe ô tô để bảo đảm nghĩa vụ thanh

toán cho Hợp đồng vay khi mua xe.

Xe ô tô BKS 92A-124.96 do à Trần Th L (Mẹ vợ b cáo) đăng ký chủ sở

hữu là tài sản đã được à Trần Th L thế chấp tại X, chi nhánh Quảng Nam,

phòng giao d ch H để bảo đảm vay vốn cho Hợp đồng cho vay số

110/2018/HĐTD/PVB-PGD.HA ngày 31-8-2018 số tiền vay 399.000.000 đồng,

mục đích vay là để trả tiền mua cho chính xe ô tô BKS 92A-124.96.

Theo Hợp đồng mua xe thì à L đã nộp 161.000.000 đồng cho ên án

xe, còn lại số tiền 399.000.000 đồng là do X chuyển trả theo Hợp đồng vay của

à L để mua xe; như vậy việc Bản án sơ thẩm cho rằng b cáo A dùng

170.000.000 đồng trộm cắp để mua xe là không hợp lý. Chiếc xe ô tô này là tài

sản thế chấp tại X; Ngân hàng đang giữ toàn ộ giấy tờ sở hữu xe, như vậy xe ô

tô BKS 92A-124.96 đã là tài sản bảo đảm cho một Hợp đồng vay, X là người

đang quản lý tài sản hợp pháp.

Hiện nay, do à Trần Th L đang vi phạm nghĩa vụ trả nợ và thống nhất

giao xe ô tô đã thế chấp cho X thanh lý trả nợ vay. Như vậy, cần căn cứ vào

khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 351, Điều 355 của Bộ luật Dân sự,

trả lại xe ô tô BKS 92A-124.96 cho vợ chồng à Trần Th L và X (chi nhánh

Quảng Nam, phòng giao d ch H) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho

Hợp đồng vay số 110/2018/HĐTD/PVB-PGD.HA ngày 31-8-2018. Đồng thời,

giữ nguyên các mức bồi thường thiệt hại, chỉ điều chỉnh lại rõ b cáo A phải ch u trách nhiệm bồi thường cho vợ chồng ông Lê Bá nhật và à Ngô Th Q đủ số tiền 1.530.028.500 đồng.

[3] Kháng cáo của X là có căn cứ, được chấp nhận. Bản án sơ thẩm không

đưa à Trần Th L vào tham gia tố tụng với tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” là thiếu sót. Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm là có cơ sở, tuy nhiên à Trần Th L có ý kiến, nguyện vọng trùng hợp, thống nhất với kháng cáo của X và đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án, nên không cần thiết phải hủy phần bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng để xét xử sơ thẩm lại, sẽ kéo dài việc giải quyết vụ án.

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm b cáo Võ Tuấn A phải ch u 200.000 đồng

là đúng quy đ nh; về án phí dân sự sơ thẩm b cáo phải ch u số tiền được làm tròn số là 89.737.000 đồng (được tính theo tổng số tiền b buộc bồi thường cho các hại là 2.886.883.235 đồng).

[5] Các quyết đ nh khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có

kháng cáo, kháng ngh , không liên quan đến kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 Điều 357 của Bộ

luật Tố tụng hình sự năm 2015; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 26-4-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589

Bộ luật Dân sự năm 2015; Buộc cáo Võ Tuấn A có nghĩa vụ ồi thường thiệt hại về tài sản cho các hại với tổng số tiền là 2.886.883.235 đồng, cụ thể từng hại như sau:

- Bồi thường cho vợ chồng ông Lê Bá N, à Ngô Th Q số tiền là

1.530.028.500 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi triệu, không trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng).

- Bồi thường cho Văn phòng Công chứng L số tiền là 76.030.000 đồng

(Bảy mươi sáu triệu, không trăm ba mươi nghìn đồng).

- Bồi thường cho ch Lê Th Dân số tiền là 1.280.824.735 đồng (Một tỷ,

hai trăm tám mươi triệu, tám trăm hai mươi bốn nghìn, bảy trăm ba lăm đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự,

Trả lại 01 (Một) xe ô tô BKS 92A-124.96 do à Trần Th L đứng tên

đăng ký chủ sở hữu (không kiểm tra chất lượng bên trong) cho à Trần Th L và Ngân hàng X (Chi nhánh Quảng Nam- Phòng giao d ch H) để bảo đảm thực

hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng thế chấp số: 110/2018/HĐBĐ/PVB-

PGĐ.HA ngày 31/8/2018 và Hợp đồng vay vốn số 110/2018/HĐTD/PVB-

PGD.HA ngày 31-8-2018.

4. Về án phí: b cáo Võ Tuấn A phải ch u 200.000 đồng (Hai trăm nghìn

đồng y) án phí hình sự sơ thẩm và 89.737.000 đồng (Tám mươi chín triệu, bảy

trăm ba mươi bảy nghìn đồng y) án phí dân sự sơ thẩm

5. Các quyết đ nh khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có

kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo,

kháng ngh .

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ