- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Thị Đ - Nguyễn Thị B"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Phạm Thị Đ, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 197/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nh n d n huyện CB t nh Tiền Giang
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự Không
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2021/DS-PT Ngày: 22/12/2021 V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
Ông Võ Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thắm, Thư Tòa án nh n d n t nh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Bà Hà Thúy Thảo, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 15 tháng 12 và ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nh n d n t nh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án d n sự thụ l số 454/2020/TLPT-DS ngày 10/11/2020 về việc tranh chấp: “Quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án d n sự sơ thẩm số 197/2020/DSST ngày 29/9/2020của Tòa án nh n d n huyện CB, t nh Tiền Giang bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 567/2020/QĐ-PT ngày 16/11/2020giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1966; (có mặt)
Địa ch : ấp MN, xã MĐT, huyện CB, t nh Tiề Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Đ: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1957;(Theo giấy ủy quyền ngày 21/8/2019) (có mặt)
Địa ch : Số x LTK, tổ M, khu phố T, phường N, thành phố MT, t nh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1942;
Địa ch : ấp B, xã MT, huyện CB, t nh Tiền Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1989; (Theo giấy ủy quyền ngày 02/12/2020) (có mặt)
Cùng địa ch : ấp AT, xã ĐHH, huyện CB, t nh Tiền Giang.
3. Người háng cáo: Nguyên đơn Phạm Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ là ông Nguyễn Văn D trình bày:
Vào hoảng năm 1985 bà Đ được cha là ông Nguyễn Văn S và mẹ là bà Nguyễn Thị B cho phần đất lúa diện tích hoảng 2.000 m2 để canh tác và phía ông S và bà B có chuyển nhượng cho bà Đ phần đất có diện tích là 1.410 m2 là một liếp tr m bầu và phần vườn tạp với giá 05 ch vàng 24K và 8.000.000 đồng và bà Đ quản l canh tác từ năm 1985 cho đến năm 1991 thì bà Đ được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtsố 40/ GCNĐĐ vào ngày 30/5/1991 gồm 03 thửa như sau:
- Thửa 408,tờ bản đồ số 03, diện tích 760 m2 , mục đích sử dụng đất 2L;
- Thửa 409,tờ bản đồ số 03, diện tích 510 m2 , mục đích sử dụng đất Hg;
- Thửa 410,tờ bản đồ số 03, diện tích 2140 m2 , mục đích sử dụng đất 2L.
Bà Đ quản l canh tác cho đến năm 2019 do làm lúa hông hiệu quả nên bà chuyển mục đích sử dụng từ đất lúa lên đất vườn để trồng c y l u năm thì bị bà B ngăn cản cho rằng đất của bà B nên phát sinh tranh chấp và bà mới biết các phần đất trên bà B được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa 99, tờ bản đồ 16, diện tích 3.258,3 m2 vào ngày 26/11/2013.
Nay bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị B phải làm thủ tục sang tên cho bà phần đấtở thửa 99, tờ bản đồ 16, diện tích 3.258,3 m2 được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 26/11/2013 vì phần đất này trước đ y bà đã được được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtở thửa số 40/GCNĐĐ vào ngày 30/5/1991 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà B vào năm 2013.
* Ông Phạm Văn T là người đại diện theo ủy quyền của của bị đơn Nguyễn Thị B trình bày:
Vào năm 1985 bà B có cho bà Đ mượn phần đất lúa hoản 2.000 m2 để canh tác vì lúc đó hoàn cảnh kinh tế bà Đ gặp hó hăn và có chuyển nhượng cho bà Đ một liếp tr m bầu và phần đất lúa với diện tích hoản 1.270m2, khi chuyển nhượng và cho mượn đất canh tác ch thỏa thuận miệng hông có làm giấy tờ, hông biết cách nào bà Đ làm thủ tục và đứng tên toàn bộ diện tích đất trên mà bà B hông hề hay biết. Đến năm 2013 thì nhà nước yêu cầu làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Đ có đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 để cấp lại nhưng chính quyền địa phương hông làm thủ tục được vì phần đất này là của bà B nên bà B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2013. Nay bà B đồng tách bộ cho bà Đ hai phần đất mà bà B đã chuyển nhượng cho bà Đ trước đ y là liếp tr m bầu theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/3/2020 là T-1 có diện tích là 510 m2và phần đất lúa theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/3/2020 là T-3 có diện tích là 720,6 m2. Bà B hông đồng làm thủ tục tách bộ cho bà Đ phần đất lúa theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/3/2020 là T-2 có diện tích là 2028 m2.
* Bản án d n sự sơ thẩm số 197/2020/DSST ngày 29/9/2020 của Tòa án nh n d n huyện CB, t nh Tiền Giang đã quyết định:
Áp dụng:
-Điều 5, khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 35Bộ luật Tố tụng d n sự ;
- Điều 688 Bộ luật D n sự năm 2005;
- Điều 46, Điều 49, Điều 50 và Điều 52 Luật Đất đai năm 2003;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của bà Phạm Thị Đ về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả lại phần đất diện tích 2.000m2.
2/. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B đồng làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị Đ hai phần đất như sau:
- Phần đất thứ 01: Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/3/2020 là T-1 có diện tích là 510 m2, nằm trong thửa số 99, tờ bản đồ số 16, diện tích diện tích 3.258,3 m2 được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho bà Nguyễn Thị B vào ngày 26/11/2013 có vị trí như sau:
Phía Đông giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 28,88 m và đất của ông Nguyễn Văn T1 dài 60,90m;
Phía T y giáp đất của ông Lê Văn Đ dài 89,98 m;
Phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị B ngang 6,21m;
Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn Sáu N ngang 4,98m .
- Phần đất thứ 02: Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/3/2020 là T-3 có diện tích là 720,6 m2, nằm trong thửa số 99, tờ bản đồ số 16, diện tích diện tích 3.258,3 m2 được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho bà Nguyễn Thị B vào ngày 26/11/2013có vị trí như sau:
Phía Đông giáp đất ông Huỳnh Minh H ngang 19,37m;
Phía T y giáp đất của ông Lê Văn Đ ngang 19,03 m;
Phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 37,65m;
Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 37,49m;
(Có sơ đồ èm theo)
Bà Phạm Thị Đ được đăng đất đai theo quy định tại Điều 95 Luật Đất đai.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí và quyền háng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 05/10/2020, bị đơn bà Phạm Thị Đ háng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
* Ngày 17/11/2021, bà Đ có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đồng thời rút yêu cầu háng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Đ xác định sẽ tiếp tục giữ yêu cầu rút háng cáo nếu bị đơn chấp nhận cho nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên đại diện bị đơn hông đồng nên đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo và hởi kiện, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Tiền Giang xác định tại cấp phúc thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục theo pháp luật quy định, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trước tòa. Về nội dung Viện kiểm sát cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đôi bên. Bà Đ là người có điều kiện và canh tác ổn định trong thời gian dài, cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất cho bà B là hông có cơ sở. Án sơ thẩm tuyên hông chấp nhận yêu cầu g y ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Viện kiểm sát đề nghị hủy án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, iến của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Theo yêu cầu tại đơn hởi kiện cũng như lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, Tòa án nh n d n huyện CB thụ l và giải quyết vụ án với quan hệ tranh chấp là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.
Do hông đồng với phán quyết tại án sơ thẩm, bà Đ háng cáo. Thủ tục háng cáo được thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng d n sự nên được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 31 tháng 12 năm 2020 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D yêu cầu thu thập hồ sơ 299 đối với các thửa đất liên quan đến tranh chấp, Ủy ban nh n d n huyện CB đã cấp quyền sử dụng cho bà Đ vào năm 1991. Kết quả, Văn phòng đăng đất đai xác định các thửa đất nêu trên hông được thể hiện trên bản đồ của hồ sơ theo ch thị 299. Đối với Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện CB cũng hông có hồ sơ đăng theo ch thị 299 đối với các thửa đất có liên quan cấp cho bà Đ vào năm 1991 như yêu cầu. Bên cạnh đó Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện CB cung cấp cho Tòa án bản sao toàn bộ tài liệu các thửa đất nêu trên xác định thuộc quyền sử dụng của bà B.
Về nội dung:
Xét yêu cầu háng cáo của bà Phạm Thị Đ, bà cho rằng thửa đất lúa hoản 2000m2 bà được cha mẹ chia cho vào hoảng năm 1985, năm 1991 bà được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 40/GCNĐĐ và bà đã trực tiếp quản l , canh tác đến nay. Năm 2013, mẹ bà Đ là bà B lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà hông hay biết. Do vậy bà Đ yêu cầu công nhận đất cho bà và hủy giấy cấp cho bà B.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của đương sự có cơ sở xác định:
Nguồn gốc phần đất thửa số 99, tờ bản đồ số 16, diện tích diện tích 3.258,3 m2 được Ủy ban nh n d n Huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B vào ngày 26/11/2013 là do bà B và chồng là ông S tạo lập. Năm 1985 thì bà B và ông S có chuyển nhượng cho bà Đ phần đất có diện tích là 1.410 m2 là một liếp tr m bầu và phần vườn tạp với giá 05 ch vàng 24K và 8.000.000 đồng việc này bà B và bà Đ thừa nhận. Riêng đối với phần đất lúa bà Đ trình bày là bà B tặng cho 2.000 m2 nên bà mới được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 40/ GCNĐĐ vào ngày 30/5/1991 ở thửa 410, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.140 m2, mục đích sử dụng đất 2L. Bà B xác định ch cho bà Đ mượn canh tác hông có tặng cho như bà Đ trình bày và phía bà Đ cũng hông căn cứ gì chứng minh là bà B tặng cho. Theo công văn số 2062/CV- CNVPĐK ngày 13/8/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện CB thì thửa đất số 99, tờ bản đồ số 16, diện tích 3.258,3 m2 được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B vào ngày 26/11/2013 là cấp lần đầu về trình tự thủ tục Ủy ban nh n d n xã MT thực hiện đúng theo quy định và Ủy ban nh n d n xã MT cũng xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B là do Ủy ban nh n d n xã MT dựa trên cơ sở chủ hộ ê hai đăng và iến thống nhất của Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã tại thời điểm đó. Đ y là trường hợp xin cấp giấy chứng nhận lần đầu của bà Nguyễn Thị B, Ủy ban nh n d n xã MT đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 40/GCNĐĐ ngày 30/5/1991 Ủy ban nh n d n huyện CB cấp cho bà Đ ở các thửa 408, 409 và 410 là giấy chứng nhận tạm Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện CB hông lưu trữ và Ủy ban nh n d n xã MT xác định giấy chứng nhận số 40 ngày 30/5/1991 do bà Đ cung cấp là giấy tạm nên hồ sơ Ủy ban nh n d n xã hông lưu trữ và bà Đ cũng hông làm thủ tục tục để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Từ đó, cấp sơ thẩm hông chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ.
. Xét thấy l do đề nghị hủy án sơ thẩm của Kiểm sát viên tại phiên toà, xem xét các tài liệu thu thập được tại cấp sơ thẩm cũng như thu thập theo yêu cầu của đại diện nguyên đơn tại cấp phúc thẩm, đã có đủ tài liệu để chứng minh về nguồn gốc, quá trình biến động của thửa đất như đã nhận định ở trên. Có căn cứ cho thấy đất thuộc quyền sử dụng của bà B như án sơ thẩm đã xác định, bà Đ ch được tạm cấp vào năm 1990 theo ê hai. Năm 2013 có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính thức lần đầu, bà B có căn cứ xác định là người đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các tài liệu liên quan đến việc cấp đất đã được cơ quan có thẩm quyền chung cấp đầy đủ. Như đã nhận định ở trên án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên hông thể chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Với những căn cứ cũng như nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ, giữ nguyên bản án d n sư sơ thẩm.
. Về án phí: Bà Đ phải chịu án phí d n sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào hoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự
Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Phạm Thị Đ, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 197/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nh n d n huyện CB t nh Tiền Giang
Áp dụng:
- Điều 5, khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng d n sự ;
- Điều 688 Bộ luật D n sự năm 2005;
- Điều 46, Điều 49, Điều 50 và Điều 52 Luật Đất đai năm 2003;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của bà Phạm Thị Đ về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả lại phần đất diện tích 2.000m2.
2/. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B đồng làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị Đ hai phần đất như sau:
- Phần đất thứ 01: Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/3/2020 là T-1 có diện tích là 510 m2, nằm trong thửa số 99, tờ bản đồ số 16, diện tích diện tích 3.258,3 m2 được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho bà Nguyễn Thị B vào ngày 26/11/2013 có vị trí như sau:
Phía Đông giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 28,88 m và đất của ông Nguyễn Văn T1 dài 60,90m;
Phía T y giáp đất của ông Lê Văn Đ dài 89,98 m;
Phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị B ngang 6,21m;
Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn Sáu N ngang 4,98m .
- Phần đất thứ 02: Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 13/3/2020 là T-3 có diện tích là 720,6 m2, nằm trong thửa số 99, tờ bản đồ số 16, diện tích diện tích 3.258,3 m2 được Ủy ban nh n d n huyện CB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho bà Nguyễn Thị B vào ngày 26/11/2013 có vị trí như sau:
Phía Đông giáp đất ông Huỳnh Minh H ngang 19,37m;
Phía T y giáp đất của ông Lê Văn Đ ngang 19,03 m;
Phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 37,65m;
Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 37,49m;
(Có sơ đồ èm theo)
Bà Phạm Thị Đ được đăng đất đai theo quy định tại Điều 95 Luật Đất đai.
3/. Án phí: Bà Phạm Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí d n sự phúc thẩm. Bà Đ đã tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002719 ngày 05/12/2019 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004053 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện CB, xem như đã nộp xong án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án tuyên lúc 08 giờ 30 phút ngày 22/12/2021. Có mặt ông D, bà Đ, anh H, đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Tiền Giang.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND t nh Tiền Giang; - TAND huyện CB; - CC THADS huyện CB; - Các đương sự; - Phòng KTNV THA (TAT); - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Trung Hiếu |