- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn đối với anh Trần Trung K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2020/HNGĐ-ST Ngày: 22 – 12 – 2020 V/v Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Lư Trường Tây
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tua
Bà Trần Thị Bé Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Loan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 250/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2020/QĐXXST–HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 129/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: ấp A, xã C, huyện B, tỉnh H.
Chỗ ở: ấp 4, xã T, thành phố K, tỉnh G (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Trung K, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Số 289, ấp 1, xã Y, huyện I, tỉnh G (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Huỳnh Thị Thanh T trình bày:
Chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Trần Trung K chức lễ cưới, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, thời gian chung sống anh chị có được 02 người con chung tên Trần Huỳnh Khánh B, (Giới tính: Nữ) sinh ngày: 30/3/2011 và Trần Huỳnh Khánh V (Giới tính: Nữ), sinh ngày 21/4/2013.
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số: 119/2017/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2017 về con chung công nhận sự thỏa thuận như sau: “Bà Huỳnh Thị Thanh T đồng ý giao con chung Trần Huỳnh Khánh B, sinh ngày: 30/3/2011 và Trần Huỳnh Khánh V, sinh ngày 21/4/2013 cho anh Trần Trung K nuôi dưỡng. Bà Huỳnh Thị Thanh T chưa phải cấp dưỡng do anh Trần Trung K chưa yêu cầu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho bà Huỳnh Thị Thanh T không ai được cản trở”
Sau khi Quyết định có hiệu lực pháp luật, anh Trần Trung K không trực tiếp chăm sóc mà giao cho bà Trương Thị C và em là Trần Thị Diễm T1 nuôi dưỡng. Trong quá trình anh K nuôi dưỡng, chị có đến thăm các con nhưng bị phía gia đình anh K ngăn cản, cản trở quyền thăm con của chị. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 8/2020 các con đã về sinh sống với chị tại nơi làm việc của chị tại ấp 4, xã T, thành phố K, tỉnh G và các con đã được đi học, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt.
Chị Huỳnh Thị Thanh T cho rằng anh Trần Trung K không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con nên yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp con đối với Trần Huỳnh Khánh B, (Giới tính: Nữ) sinh ngày: 30/3/2011 và Trần Huỳnh Khánh V (Giới tính: Nữ), sinh ngày 21/4/2013 từ anh Trần Trung K sang cho chị Huỳnh Thị Thanh T và không yêu cầu anh Trần Trung K cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong quá trình tiến hành tố tụng, từ khi Tòa án thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Trần Trung K để tiến hành phiên họp, phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi được lời khai của bị đơn cũng như bị đơn không thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh T về yêu cầu thay đổi người trực tiếp con đối với Trần Huỳnh Khánh B, (giới tính: Nữ) sinh ngày: 30/3/2011 và Trần Huỳnh Khánh V (Giới tính: Nữ), sinh ngày 21/4/2013 từ anh Trần Trung K sang cho chị Huỳnh Thị Thanh T. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Trần Trung K phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Trung K đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp con sau khi ly hôn”, căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình quy định các căn cứ thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: “2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T: Trong vụ án này giữa chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Trần Trung K không thỏa thuận được về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Và để chứng minh điều kiện nuôi con, Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ là chứng cứ chứng minh điều kiện kinh tế để nuôi con. Tuy nhiên, đã hết thời hạn theo Quyết định nhưng phía bị đơn anh Trần Trung K không cung cấp theo yêu cầu của Tòa án; đối với nguyên đơn cung cấp được bảng lương chứng minh có thu nhập ổn định; Tại biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương; biên bản ghi lời khai chị Trần Thị Diễm T1 cũng đã xác định được anh Trần Trung K hiện tại không trực tiếp nuôi dưỡng do đi làm thuê ở Vũng Tàu; Tại biên bản ghi nguyện vọng của Trần Huỳnh Khánh B và Trần Huỳnh Khánh V cũng xác nhận cha là anh Trần Trung K thường xuyên đi làm ăn xa, con sống với bà Nội, cho đến tháng 8/2020 con về sống với mẹ là chị Huỳnh Thị Thanh T; Trần Huỳnh Khánh B và Trần Huỳnh Khánh V cũng có nguyện vọng được về sống với chị Huỳnh Thị Thanh T.
Căn cứ vào điều kiện trực tiếp nuôi con của anh Trần Trung K. Hội đồng xét xử xét thấy, anh Trần Trung K là người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định anh Trần Trung K không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nên yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Huỳnh Thị Thanh T là có cơ sở để Tòa án chấp nhận.
Chị Huỳnh Thị Thanh T chưa yêu cầu anh Trần Trung K cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.
Anh Trần Trung K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Do thực tế Trần Huỳnh Khánh B và Trần Huỳnh Khánh V đang sống với chị Huỳnh Thị Thanh T nên không buộc anh Trần Trung K giao cho chị Huỳnh Thị Thanh T, mà tiếp tục giao cho chị Huỳnh Thị Thanh T được tiếp tục nuôi dưỡng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trần Trung K phải chịu theo qui định của pháp luật; Chị Huỳnh Thị Thanh T được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81; điểm b khoản 2 Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn đối với anh Trần Trung K.
2. Tiếp tục giao Trần Huỳnh Khánh B, (Giới tính: Nữ) sinh ngày: 30/3/2011 và Trần Huỳnh Khánh V (Giới tính: Nữ), sinh ngày 21/4/2013 cho chị Huỳnh Thị Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi Trần Huỳnh Khánh B và Trần Huỳnh Khánh V thành niên. Chị Huỳnh Thị Thanh T chưa yêu cầu anh Trần Trung K cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.
Anh Trần Trung K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bị đơn anh Trần Trung K phải phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001242, ngày 02 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
4. Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh T có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Trần Trung K có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày bản án sơ thẩm được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS H.Vị Thủy; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lư Trường Tây |