- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp về hụi"
- Tòa quyết gì? Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 65/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 313/2020/DS-PT Ngày 28-12-2020 V/v tranh chấp giao dịch dân sự về hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Trung
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- i di n i n Ki m át nh n d n t nh Bình ương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung - Ki m sát vi n.
Ngày 28/12/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 345/2020/TLPT-DS ngày 13/11/2020 về việc “tranh chấp giao dịch dân sự về hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 314/2020/QĐ-PT ngày 19/11/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M (tên gọi khác Kiều), sinh năm 1963; địa chỉ: Số 17/30, đường Nguyễn An N, khu phố B2, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 15A, đường Hùng V, khu phố 2, phường 2, thị xã Kiến T, tỉnh Long An; tạm trú: Số 95/10, đường L Hồng Phong, khu phố 5, phường Phú Lợi, thành phố T1, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền ngày 13/5/2020).
- Bị đơn:
1. Ông Võ Văn N, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 130, đường Võ Thị S, khu phố TA, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
2. Bà Đặng Thị Ngọc Đ (tên gọi khác Hai R), sinh năm 1955; địa chỉ: 955A/16, khu phố B1, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
3. Ông Nguyễn Bá Q, sinh 1976; địa chỉ: 82B/21, khu phố N1, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
4. Bà Nguyễn Thị Kim L (tên gọi khác: N1), sinh năm 1967; địa chỉ: 82B/21, khu phố N1, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
5. Ông Phan Văn B, sinh năm 1980; địa chỉ: 154/30, đường Lê Hồng Phong, khu phố Đ, phường T2, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1965; địa chỉ: 83B/21, khu phố N1, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Văn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2020, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M là ông Nguyễn Hữu L trình bày:
Vào năm 2017, bà Nguyễn Thị M tham gia chơi 03 dây hụi do bà Nguyễn Thị Kim L (N1) làm chủ. Trong đó cả 3 dây hụi đều có 15 người tham gia và mỗi dây có 21 phần chơi, số tiền đóng hụi mỗi dây là 20.000.000 đồng/phần/tháng, bà M tham gia 05 phần trong đó dây 01 và dây 02 mỗi dây 02 phần, dây 03 tham gia 01 phần. Theo thỏa thuận, 03 dây hụi khui cùng ngày, mỗi tháng khui 01 lần, thành viên nào bỏ lãi cao thì được hốt hụi, chủ hụi được hưởng hoa hồng là 10.000.000 đồng trên 01 dây hụi được hốt, người hốt hụi sẽ thanh toán tiền hoa hồng cho chủ hụi. Bà L vừa làm chủ hụi vừa tham gia với tư cách thành viên. Trong các dây hụi trên thì ông Võ Văn N chơi 03 dây hụi, mỗi dây 02 phần; bà Đặng Thị Ngọc Đ (Hai R) chơi 01 dây 01 phần; bà Nguyễn Thị Kim L chơi 02 dây, mỗi dây 01 phần; ông Phan Văn B chơi 02 dây, mỗi dây 01 phần; ông Nguyễn Bá Q chơi 01 dây 01 phần. Bà M đã đóng 03 kỳ liên tiếp với tổng số tiền: 03 kỳ x 05 phần/03 dây x 20.000.000 đồng/dây = 300.000.000 đồng, 03 dây hụi tr n đã được khui 03 kỳ cụ th :
Kỳ 1: Khui ngày 15/6/2017: Bỏ lãi 3.000.000 đồng/phần. Dây 1: Có 02 phần thành vi n không đóng. Bà Nguyễn Thị Kim L (N1) hốt số tiền 306.000.000 đồng; dây 2: Có 02 phần thành vi n không đóng. Ông Võ Văn N hốt số tiền 323.000.000 đồng, cấn trừ hụi ông N phải đóng, số tiền ông hốt thực tế là 238.000.000 đồng; dây 3: Có 02 phần thành vi n không đóng. Bà Đặng Thị Ngọc Đ (Hai R) hốt số tiền 323.000.000 đồng.
Kỳ 2: Khui ngày 14/7/2017: Bỏ lãi 5.200.000 đồng/phần, có 02 phần thành vi n không đóng cho 03 dây. Ông Võ Văn N hốt hết 03 dây, số tiền 854.000.000 đồng.
Kỳ 3: Khui ngày 18/8/2017: Bỏ lãi 4.500.000 đồng/phần. Dây 01 và dây 02: Có 02 phần thành vi n không đóng. Ông Phan Văn B hốt 02 dây với tổng số tiền: 638.000.000 đồng. Dây 3: Có 02 phần thành vi n không đóng. Ông Nguyễn Bá Q hốt số tiền 319.000.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền mà các bị đơn hốt hụi có tiền của bà M đóng vào và hưởng lãi của hụi như sau: Ông N hốt hụi 1.092.000.000 đồng trong đó có tiền của bà M là: 140.000.000 đồng. Bà Đ (Hai R) hốt hụi 323.000.000 đồng, trong đó có tiền của bà M là 20.000.000 đồng. Bà L (N1): Hốt hụi 306.000.000 đồng, trong đó có tiền của bà M là 40.000.000 đồng. Ông B hốt hụi 638.000.000 đồng trong đó có tiền của bà M là 80.000.000 đồng. Ông Q hốt hụi 319.000.000 đồng, trong đó có tiền của bà M là 20.000.000 đồng.
Tuy nhiên sau khi hụi khui được 03 kỳ, ông N, bà L (N1), bà Đ (Hai R), Ông Q và Ông B là những người đã hốt hụi trước không chịu đóng lại phần hụi theo thỏa thuận đ những thành vi n khác chưa hốt trong đó có bà M được quyền hốt trong các kỳ tiếp theo. Bà L (N1) là chủ hụi cũng không điều hành tiếp tục duy trì hoạt động 03 dây hụi cũng nhưng không có thỏa thuận nào giữa các thành vi n đối với chủ hụi trong việc thực hiện trách nhiệm đóng hụi thay cho thành vi n khi các thành vi n không đóng. Sau 3 kỳ khui hụi, các dây hụi không tiếp tục hoạt động từ tháng 9/2017 cho đến nay. Do đó việc không đóng hụi của các thành vi n đã hốt hụi đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà M. Năm 2018, bà M có yêu cầu các bị đơn hoàn trả hụi đã hốt thì được hoàn trả một phần trong đó: Ông N hoàn trả 75.199.159 đồng; bà Đ (Hai R) hoàn trả 11.295.034 đồng; bà L (N1) hoàn trả 11.295.034 đồng; Ông B hoàn trả 55.386.961 đồng; Ông Q hoàn trả 11.295.034 đồng. Số tiền hụi các bị đơn còn nợ bà M cụ th : Ông N còn nợ 64.800.841 đồng; bà Đ (Hai R) còn nợ 8.704.966 đồng; Bà L (N1) còn nợ 28.704.966 đồng; Ông B còn nợ 24.613.039 đồng; Ông Q còn nợ 8.704.966 đồng. Do các bị đơn đã hốt hụi nhưng không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi như thỏa thuận ban đầu đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà M, sau này đã hoàn trả một phần nhưng vẫn còn nợ lại bà M tiền hụi, bà M đã nhiều lần yêu cầu trả nhưng các bị đơn cố tình không trả.
Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2020, bà M yêu cầu các bị đơn phải trả tiền hụi còn nợ và bồi thường thiệt hại do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hụi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; cụ th :
+ Buộc ông Võ Văn N hoàn trả 64.800.841 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 17.531.526 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020 (974 ngày), lãi suất 10%/năm với tổng số tiền: 82.332.367 đồng.
+ Buộc bà Đặng Thị Ngọc Đ (Hai R) hoàn trả 8.704.966 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 2.355.083 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020 (974 ngày) lãi suất 10%/năm với tổng số tiền 11.060.048 đồng.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Kim L (N1) hoàn trả 28.704.966 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 7.765.977 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020 (974 ngày), lãi suất 10%/năm với tổng số tiền 36.470.943 đồng.
+ Buộc ông Phan Văn B hoàn trả 24.613.039 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 6.658.928 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020 (974 ngày), lãi suất 10%/năm với tổng số tiền 31.271.967 đồng.
+ Buộc ông Nguyễn Bá Q hoàn trả 8.704.966 đồng nợ hụi và bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 2.355.083 đồng (tạm tính từ ngày 15/9/2017 đến ngày 15/5/2020, (974 ngày), lãi suất 10%/năm với tổng số tiền: 17.060.048 đồng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông Nguyễn Hữu L đại diện bà M xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt hại do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hụi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Bà M chỉ yêu cầu các bị đơn trả số tiền hụi còn nợ cụ th đối với từng bị đơn như sau:
+ Buộc ông Võ Văn N hoàn trả 64.800.841 đồng tiền nợ hụi.
+ Buộc bà Đặng Thị Ngọc Đ (Hai R) hoàn trả 8.704.966 đồng tiền nợ hụi.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Kim L (N1) hoàn trả 28.704.966 đồng tiền nợ hụi.
+ Buộc ông Phan Văn B hoàn trả 24.613.039 đồng tiền nợ hụi.
+ Buộc ông Nguyễn Bá Q hoàn trả 8.704.966 đồng tiền nợ hụi.
Tại bản tự khai ngày 02/7/2020 các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Văn N trình bày: Ông Võ Văn N có quen biết do làm ăn chung với bà Nguyễn Thị Kim N, còn bà Nguyễn Thị Kim L chỉ biết là em gái của bà N. Bà Nguyễn Thị M cùng tham gia chơi hụi với ông N. Khoảng tháng 4, tháng 5/2017, bà N có rủ ông N chơi hụi cùng với những người bạn, trong đó có một số người mà ông N quen biết. Đến tháng 6/2017 bắt đầu chính thức chơi và khui hụi. Tất cả có 03 dây hụi, mỗi dây có 21 phần. Ông N tham gia 03 dây, mỗi dây 02 phần, tổng cộng 06 phần. Chủ hụi là bà N với các lý do: Bà N là người trực tiếp vận động ông N và những người khác tổ chức chơi hụi; thu tiền hụi của các hụi vi n; hướng dẫn cách thức điều hành dây hụi cho bà L (do bà L không biết cách thức điều hành dây hụi như thế nào, bà L cũng không kêu gọi, gợi ý các anh chị em tham gia chơi hụi; không nhận tiền đóng hụi từ các hụi viên, không nhận tiền hoa hồng từ ông N) nhằm tạo điều kiện cho bà L có thu nhập; khi ông N hốt hụi thì tiền hoa hồng bà N là người giữ lại. Do đó, ông N khẳng định bà N là chủ hụi, còn bà L chỉ là người chứng kiến, phụ giúp cho bà N. Trong 3 dây hụi trên, ông N đã hốt 04 phần cụ th : Dây 02: Khui ngày 15/6/2017, hốt 01 phần (bỏ lãi 3.000.000 đồng), mỗi phần 20.000.000 đồng/hụi viên, sau khi trừ lãi thì mỗi người đóng là 17.000.000đồng, ông N hốt được 323.000.000 đồng, ông N đã đóng tiền hoa hồng cho bà N là 10.000.000 đồng. Ngày 14/7/2017 khui hết 03 dây, ông N hốt hết 03 phần (bỏ lãi 5.200.000 đồng), mỗi hụi vi n đóng là 14.800.000 đồng, ông N hốt được tổng 854.000.000 đồng, ông N đóng tiền hoa hồng cho bà N 30.000.000 đồng. Số tiền hoa hồng trên bà N là người giữ, còn bà N chia cho ai thì ông không biết. Tổng cộng số tiền ông N hốt 04 phần 1.177.000.000 đồng, bà N chỉ đưa cho ông N tiền hụi của kỳ đầu tiên còn các kỳ sau thì bà N không đưa lại cho ông N mà giữ lại, đồng thời ông đưa th m cho bà N 23.000.000 đồng, tổng là 1.200.000.000 đồng đ bà N mua cổ phần FPT cho ông. Số tiền này hiện nay đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương xác định là số tiền bà N lừa đảo chiếm đoạt của ông N và ông là bị hại trong vụ án hình sự đó. Từ tháng 9/2017, các dây hụi trên không hoạt động nữa, do việc mua cổ phần FPT là không có thật; sau đó, bà N bị cơ quan điều tra truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, ông N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn về việc yêu cầu trả tiền hụi, ông N xác định cả ông N và bà N cùng có trách nhiệm trả tiền cho bà Nguyễn Thị M đối với kỳ hụi đầu tiên mà ông N hốt, còn các kỳ sau ông N không đồng ý trả cho bà M mà trách nhiệm hoàn toàn thuộc về bà N và khi nào ông N được thi hành phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự đối với bà Nguyễn Thị Kim N thì ông N mới trả tiền hụi lại cho bà M.
Tại bản tự khai ngày 18/8/2020 các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Bá Q trình bày: Tháng 6/2017, bà Nguyễn Thị Kim N, bạn bè của bà N mua cổ phần FPT và bà N có tổ chức 03 dây hụi với số tiền 20.000.000 đồng/tháng/dây/phần. Ông Q không có tiền mua cổ phần, bà N muốn giúp đỡ Ông Q có thêm thu nhập n n đã ghi t n Ông Q tham gia chơi một phần hụi đ mua cổ phần FPT. Bà N đã bỏ tiền ra mua cổ phần FPT cho Ông Q. Tháng 8/2017, bà N hốt hụi mang tên Ông Q. Từ việc chơi hụi và mua cổ phần đều do bà N sắp xếp cho Ông Q, Ông Q không quen biết bà Nguyễn Thị M, không tiếp xúc, không có bất cứ thỏa thuận nào và cũng không ký nhận tiền gì từ bà M. Vì vậy, bà M yêu cầu Ông Q phải trả tiền hụi, ông không đồng ý, mà trách nhiệm trả tiền hụi cho bà Nguyễn Thị M là thuộc và bà Nguyễn Thị Kim N.
Tại bản tự khai ngày 03/7/2020, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Phan Văn B trình bày: Ông B có tham gia chơi 02 trong 03 dây hụi như nguy n đơn trình bày. Ba dây hụi trên là do bà Nguyễn Thị Kim N làm chủ những người chơi hụi là những người tham gia mua cổ phần FPT. Sau khi phát hiện việc mua cổ phần FPT là không có thật thì bà N đã đồng ý bán tài sản của bà N đ trả lại tiền cho những người mua cổ phần FPT và những người này ép những người đã hốt hụi trả tiền cho những người chưa hốt hụi. Trong số tiền mà Ông B được bà N trả thì có 01 phần bị giữ lại đ chia cho những người chưa hốt hụi, bà N là chủ hụi nên bà N phải có trách nhiệm đối với những người chơi hụi, do bà N bị bắt giam nên Ông B đã có thiện chí trả 01 phần tiền hụi cho những người chưa hốt hụi. Vì vậy, Ông B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M về việc yêu cầu trả tiền hụi còn nợ, Ông B xác định cả Ông B và bà N cùng có trách nhiệm trả cho bà M tiền hụi và khi nào Ông B được thi hành phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự đối với bà N thì Ông B mới trả tiền hụi lại cho bà M và Ông B chỉ trả tiền cho bà M theo tỷ lệ tài sản mà Ông B được chia trong bản án hình sự.
Bị đơn bà Đặng Thị Ngọc Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai ngày 23/6/2020 và trong quá trình tố tụng, bà Đ trình bày: Bà Nguyễn Thị M cho rằng bà Nguyễn Thị Kim L (N1) làm chủ hụi là không đúng, mà mọi việc tổ chức chơi các dây hụi, các hụi vi n đóng tiền đều do bà Nguyễn Thị Kim N (Ngọc C) đứng ra tổ chức và nhận tiền của các hụi viên, bà Đ chỉ hốt hụi với số tiền 306.000.000 đồng chứ không phải 323.000.000 đồng như đơn khởi kiện của bà M. Nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ hoàn trả tiền nợ hụi. Bà Đ xác định bà đã hốt hụi nhưng không lấy tiền mà tất cả đều đưa cho bà N đ hùn vốn làm ăn (mua cổ phần của FTP), nên bà N phải có trách nhiệm trả cho bà M số tiền hụi trên.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/6/2020, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim L là em gái ruột của bà Nguyễn Thị Kim N (thường gọi là Ngọc C), mọi người thường gọi bà L là N1. Khoảng tháng 5, tháng 6 năm 2017, bà N cùng với nhóm bạn trong tập th mua cổ phần FPT có lập 03 dây hụi, mỗi dây tham gia chơi là 20.000.000đồng/01 phần. Do không có điều kiện đ mua cổ phần của FPT nên bà N cùng với nhóm bạn cùng đề cử bà L làm chủ hụi đ được hưởng tiền hoa hồng. Bà L làm chủ hụi cả 03 dây hụi đồng thời tham gia với tư cách người chơi hụi 02 dây là dây 01 và dây 02, việc bà L làm chủ hụi chỉ trên hình thức và nhận tiền hoa hồng của mỗi kỳ. Đến kỳ đóng tiền thì các hụi vi n đóng cho bà L nhưng ngay sau khi các hụi vi n đóng tiền thì bà L chuy n luôn số tiền mà các hụi vi n đã đóng cho hụi viên hốt hụi của kỳ đó. Còn việc bà L tham gia chơi hụi là do bà N đóng tiền và bà N cũng là người hốt hụi phần của bà L, số tiền bao nhiêu thì bà L cũng không biết (vì bà L không được nhận) và bà N sử dụng luôn số tiền này. Nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L hoàn trả tiền nợ hụi, bà L khẳng định không hốt hụi của các hụi viên mà do bà N hốt phần hụi của bà L nên bà N phải có trách nhiệm trả cho bà M số tiền hụi trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai ngày 14/8/2020 trình bày: Bà Nguyễn Thị M tham gia chơi 03 dây hụi trong đó dây 01, dây 02 bà Mai tham gia 02 phần, còn dây 03 bà M tham gia 01 phần. Bà N tham gia chơi 03 dây trong đó dây 01, dây 02 bà N tham gia 02 phần, còn dây 03 bà N tham gia 03 phần, tổng số tiền mỗi tháng bà N đóng là 140.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim L là chủ hụi 03 dây hụi trên. Khi khui hụi các hụi vi n đề cử bà N làm chủ hụi nhưng bà N không đồng ý, bà N có đề cử bà L làm chủ, các hụi viên cũng đồng ý và các hụi viên thống nhất chi cho bà L mỗi tháng 10.000.000 đồng đ bà L đứng ra thu tiền hụi nhưng thực tế việc thu tiền hụi là do một số hụi viên thu về và đưa cho bà N. Sở dĩ mọi người đồng ý chi cho bà L mỗi tháng 10.000.000 đồng là do trước kia bà N đã từng giúp đỡ các hụi viên này. Sau khi thu tiền hụi thì bà N có giao tiền lại cho hụi vi n được hốt của kỳ hụi đó, nhưng sau đó thì họ lại giao tiền lại cho bà N đ bà N mua cổ phần FPT, đối với 03 dây hụi tr n thì đã khui được 03 kỳ, những hụi vi n đã được hốt hụi gồm: Ông Võ Văn N, bà Đặng Thị Ngọc Đ, ông Phan Văn B, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Bá Q. Bà N không chơi hụi thay cho bà L và Ông Q mà bà N cho Ông Q, bà L vay tiền đ mua cổ phần nên bà N hốt tiền hụi của Ông Q và bà L. Nay đối với yêu cầu của nguy n đơn bà Nguyễn Thị M về vệc yêu cầu ông Võ Văn N và ông Phan Văn B trả tiền hụi thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; còn với phần tiền hụi bà M yêu cầu bà Đặng Thị Ngọc Đ, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Bá Q thì bà Nguyễn Thị Kim N sẽ có trách nhiệm trả thay cho bà Đ, bà L và Ông Q vì số tiền hụi của ba người này do bà N hốt.
Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu các bị đơn ông Võ Văn N bồi thường thiệt hại số tiền 17.531.526 đồng (mười bảy triệu, năm trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi sáu đồng), ông Phan Văn B bồi thường thiệt hại số tiền 6.658.928 đồng (sáu triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn chín trăm hai mươi tám đồng), bà Đặng Thị Ngọc Đ bồi thường thiệt hại số tiền 2.355.083 đồng (hai triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm ba mươi tám đồng), bà Nguyễn Thị Kim L bồi thường thiệt hại số tiền 7.765.977 đồng (bảy triệu, bảy trăm sáu mươi lăm nghìn, chín trăm bảy mươi bảy đồng) và ông Nguyễn Bá Q bồi thường thiệt hại số tiền 2.355.083 đồng (hai triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm ba mươi tám đồng) do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hụi.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Nguyễn Thị M với các bị đơn ông Võ Văn N, bà Đặng Thị Ngọc Đ, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn Bá Q và ông Phan Văn B về việc tranh chấp hụi.
Buộc ông Võ Văn N phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M số tiền hụi còn nợ là 64.800.841 đồng (sáu mươi bốn triệu, tám trăm nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng).
Buộc bà Đặng Thị Ngọc Đ phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M số tiền hụi còn nợ là 8.704.966 đồng (tám triệu, bảy trăm lẻ bốn nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng).
Buộc ông Phan Văn B phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M số tiền hụi còn nợ là 24.613.039 đồng (hai mươi bốn triệu, sáu trăm mười ba nghìn, không trăm ba mươi chín đồng).
Buộc ông Nguyễn Bá Q phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M số tiền hụi còn nợ là 8.704.966 đồng (tám triệu, bảy trăm lẽ bốn nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M số tiền hụi còn nợ là 28.704.966 đồng (hai mươi tám triệu, bảy trăm lẽ bốn nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 17/9/2020, bị đơn ông Phan Văn B có đơn kháng cáo y u cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận y u cầu tính lãi hụi của nguy n đơn; Ông B chỉ chấp nhận trả cho nguy n đơn số tiền hụi đã nhận. Bị đơn ông Võ Văn N có nộp đơn kháng cáo nhưng ông N không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguy n đơn là ông Nguyễn Hữu L và bị đơn ông Phan Văn B thỏa thuận như sau:
Ông Phan Văn B trả thêm cho bà Nguyễn Thị M số tiền hụi (tính gốc) 6.613.039 đồng.
Án phí và các chi phí tố tụng: Các đương sự đề nghị Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát bi u ý kiến:
Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận giữa các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguy n đơn bà Nguyễn Thị M và bị đơn: Bà Đặng Thị Ngọc Đ (tên gọi khác Hai R), ông Nguyễn Bá Q, bà Nguyễn Thị Kim L không kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm; bị đơn ông Võ Văn N nộp đơn kháng cáo nhưng không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm n n được coi như đã từ bỏ việc kháng cáo. Do đó, quyết định của bản án sơ thẩm li n quan đến quyền lợi của bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Đặng Thị Ngọc Đ (tên gọi khác Hai R), ông Nguyễn Bá Q, ông Võ Văn N có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 282 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn B, thấy rằng:
Tại đơn khởi kiện và lời khai của các b n đương sự đều th hiện: Bà Nguyễn Thị M, ông Phan Văn B và một số người khác là thành viên góp vốn trong các dây hụi do bà Nguyễn Thị Kim L (hay gọi là N1) làm chủ hụi, mỗi kỳ góp hụi, giao tiền hụi thì chủ hụi được hưởng tiền hoa hồng. Do đó, nếu không có thỏa thuận khác thì bà Nguyễn Thị M (hụi viên) không có quyền khởi kiện ông Phan Văn B (hụi vi n) đ đòi tiền nợ hụi khi dây hụi bị chấm dứt hoạt động; trong trường hợp này trách nhiệm với các hụi viên là chủ hụi. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ có thỏa thuận giữa bà M và Ông B hay không?. Bà M có quyền khởi kiện Ông B hay không? mà thụ lý yêu cầu khởi kiện giữa bà M và Ông B là chưa đúng bản chất của giao dịch dân sự về hụi.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà M và Ông B thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận giữa hai bên là không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Tòa án ghi nhận.
Án phí và các chi phí tố tụng khác: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều: 147, 148, 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 65/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
2. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị M, ông Phan Văn B như sau:
Ông Phan Văn B phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền còn nợ hụi (gốc) còn lại là 6.613.039 đồng (sáu triệu, sáu trăm mười ba nghìn, không trăm ba mươi chín đồng).
K từ ngày người được thi hành án có đơn y u cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn B phải chịu 330.651 đồng (ba trăm ba mươi nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0048598 ngày 22/9/2020 của Chi cục T thành phố D, tỉnh Bình Dương.
5. Một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2020/DS-ST ngày 07/9/2020 về trách nhiệm trả tiền, án phí sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố D có liên quan đến quyền lợi của bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Đặng Thị Ngọc Đ (tên gọi khác Hai R), ông Nguyễn Bá Q, ông Võ Văn N đã có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS TP D; - TAND TP D; - Các đương sự (đ thi hành); - Tổ Hành chính Tư pháp; - Lưu: Hồ sơ, Tòa D. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đào Minh Đa |