- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 312/2025/DS-ST Ngày: 28 - 8 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Dòn.
2. Ông Lê Trung .
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Ngô Hoàng Phương Đại - Kiểm sát viên.Trong ngày 28 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 502/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: Số B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1996; (Giấy uỷ quyền số 9097/2024/UQ-TGĐ ngày 06/12/2024).(có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1978.(vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số kế nhà E, ấp A, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Huy H trình bày:
Ngày 25/07/2019, ông V có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.6%/ tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 449.990.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 424.675.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/05/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ ông Nguyễn Quang V còn thiếu tại thời điểm này là 33.616.065 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và áp dụng lãi suất là 2.6%/ tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150%.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông V, yêu cầu ông V có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Tính đến ngày 28/8/2025, ông Nguyễn Quang V còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng cộng số tiền là 101.745.924 đồng (Một trăm lẻ một triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, chín trăm hai mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 33.616.065 đồng; lãi quá hạn: 68.129.859 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 33.616.065 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9% /tháng (2.6% x 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án: Buộc ông Nguyễn Quang V phải trả ngay một lần cho Ngân hàng TMCP S tổng số gốc và lãi nêu trên. Đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Quang V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/08/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự cho bị đơn ông Nguyễn Quang V tham gia tố tụng theo quy định, bị đơn trực tiếp nhận các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Nguyễn Huy H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Quang V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Khoản 1 Điều 196; Khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Về án phí: Ông Nguyễn Quang V phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Nguyễn Quang V. Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh của Công an xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/3/2025 thể hiện bị đơn đang thực tế cư trú tại địa chỉ Nhà không số kế nhà E, ấp A, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành Phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Quang V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự giữa các bên đương sự ký kết và thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 để giải quyết vụ án.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/7/2019 (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/7/2019, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân của Ngân hàng TMCP S) có chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Quang V và đại diện Ngân hàng TMCP S có cơ sở xác định ngày 25/7/2019 Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Quang V với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Xét tính hợp pháp của sự thỏa thuận cho vay giữa các bên, Hội đồng xét xử xét thấy: Về nội dung và hình thức của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/7/2019 giữa nguyên đơn và bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự năm 2015, người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định pháp luật nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...” Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm”.
Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê ngày 28/8/2025 thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Quang V đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày 28/8/2025 với tổng số tiền là 101.745.924 đồng (Một trăm lẻ một triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, chín trăm hai mươi bốn đồng). Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Nguyễn Quang V đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 424.675.000 đồng (bốn trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Do ông Nguyễn Quang V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/5/2021 Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Nguyễn Quang V và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 33.616.065 đồng (ba mươi ba triệu sáu trăm mười sáu nghìn không trăm sáu mươi lăm đồng) sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S và quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.
Xét bị đơn ông Nguyễn Quang V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được nguyên đơn thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho nguyên đơn là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi:
Căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:“... 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ Khoản 2 Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.”.
Căn cứ Bảng mô tả nội dung thay đổi (ban hành theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam) thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/7/2019 là 31.2%/ năm (2.6%/tháng).
Căn cứ Điều 23, Điều 24 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng, tương đương 3.9%/tháng (2.6%/tháng x 150%).
Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP S đã chuyển số nợ gốc là 33.616.065 đồng sang nợ quá hạn từ ngày 23/5/2021, áp dụng mức lãi suất 3.9%/tháng được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ tính đến ngày 28/8/2025 là 68.129.859 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán khoản tiền lãi nêu trên là có cơ sở theo quy định đã thỏa thuận trong hợp đồng, Khoản 2 Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024, Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Quang V đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án trong đó nêu rõ yêu cầu của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu ông Nguyễn Quang V trả toàn bộ số tiền còn nợ phát sinh của Hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 25/7/2019 nhưng bị đơn vẫn không có mặt cũng như không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để giải quyết vụ án.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh và bị đơn phải chịu hậu quả về việc không phản đối và không chứng minh của mình.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán thì: Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Quang V có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/7/2019 cho Ngân hàng TMCP S tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 28/8/2025 là: 101.745.924 đồng (Một trăm lẻ một triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, chín trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 33.616.065 đồng; lãi quá hạn: 68.129.859 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/8/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 92, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 117, 119, Điều 280, Khoản 1 Điều 466, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Căn cứ Khoản 2 Điều 100, Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Buộc ông Nguyễn Quang V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng cộng số tiền là: 101.745.924 đồng (Một trăm lẻ một triệu, bảy trăm bốn mươi năm nghìn, chín trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 33.616.065 đồng (ba mươi ba triệu sáu trăm mười sáu nghìn không trăm sáu mươi lăm đồng); lãi quá hạn: 68.129.859 đồng (sáu mươi tám triệu một trăm hai mươi chín nghìn tám trăm năm mươi chín đồng).
Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Quang V còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Quang V phải chịu 5.087.296 đồng (năm triệu không trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền 2.230.094 đồng (hai triệu hai trăm ba mươi nghìn không trăm chín mươi bốn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0061107 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM (01); - VKSND TP.HCM (01); - VKSND KV10- TP.HCM (01); - THADS TP.HCM (01); - Các đương sự (04); - Lưu hồ sơ (04). 2AAKKBS*ibjcad+ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Nguyễn Thanh Thảo |