- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳn Thế Ng và Lý Thu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thế Ng và Lý Thu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG ——————— Bản án số: 312/2023/HS-ST Ngày 19-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Đức Lợi.
2/ Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 301/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 447/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lý Thu Th, sinh năm 1992 tại thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 128/5, đường số 9, khu phố 3, phường Tr, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 72/2, Đường số 8, Khu phố 2, phường Tr, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Lý Ph, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1974; có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 12/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Huỳnh Thế Ng, sinh năm 1991 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp M, xã L, thị xã Ng, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Số 95/2, đường A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1963 và bà Phan Thị M, sinh năm 1964; có 03 anh em ruột, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự số 18/2019/HS-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù giam về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Sóc Trăng (đã xóa án tích); bị tạm giam từ ngày 12/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1974; địa chỉ: 71/15/2/12, Khu phố 2, phường Tr, thành phố Th, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Nguyễn Bắc S, sinh năm 2006;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1975 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (là mẹ, cha của S). Vắng mặt.
+ Nguyễn H, sinh năm 2002. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Bà Chu Thị Hạnh Th, sinh năm 1974. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thế Ng, Lý Thu Th, Nguyễn Bắc S, địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã Ng, tỉnh Sóc Trăng và Nguyễn H, địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã Ng, tỉnh Sóc Trăng), đều quen biết nhau và sử dụng ma túy đá. Ng và Th sống chung như vợ chồng tại phòng trọ số 1 do Ng và Th thuê, thuộc nhà trọ số 95/2 đường A, khu phố B, thành phố D, tỉnh Bình Dương từ tháng 10/2022 cho đến khi bị bắt. T thu nhập hàng tháng của Ng và Th đều do Ng giữ và chi tiêu hàng ngày, tiền thuê phòng hàng tháng là do Th trả.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/4/2023, S đến phòng trọ của Th và Ng chơi rồi ở lại. Đến 21 giờ 00 phút 11/4/2023, Ng rủ Th đi mua 3.000.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì Th đồng ý, Ng điều khiển môtô hiệu Yamaha, màu nâu vàng bạc, số khung 309Y023214, số máy 23B3023219, biển số 54X9-8859 chở Th đi từ phòng trọ đến khu vực cẩu bộ hành khu du lịch Suối Tiên thuộc phường T, thành phố Th, thành phố Hồ Chí Minh để gặp một nam thanh niên tên Cu E (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá. Cu E bán cho Ng 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau khi mua được Ng cất giấu trong hộc để đồ của xe mô tô phía trước bên trái rồi điều khiển xe chở Th về phòng trọ để sử dụng. Khi về đến phòng trọ thì Th đưa túi ma túy đá cho Ng và được Ng mang lên gác gỗ phòng trọ một mình tự phân ra thành 06 gói nylon hàn kín rồi để trong một hộp giấy màu đen giấu ở dưới tấm nệm để dành sử dụng. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 11/4/2023 thì H gọi điện thoại nhờ Ng đến nhà thờ Kh thuộc phường B, thành phố Th, Thành phố Hồ Chí Minh chở về phòng trọ để ngủ nhờ do xe của Huy điều khiển bị Công an giao thông giữ và ở lại phòng trọ của Ng chờ đến khi lấy được xe. Đến khoảng 22 giờ 00 phút ngày 12/4/2023, Ng có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên rủ Th, H, Sơn sử dụng ma túy đá thì được cả ba đồng ý. Lúc này, Ng lên gác gỗ lấy 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá đổ vào nỏ thủy tinh của bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Ng rồi dùng quẹt gas đốt bầu nỏ thủy tinh tạo hơi ma túy để cho Ng, Th, S, H sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phòng trọ số 1 thuộc nhà trọ số 95/2 đường An Bình, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương của Ng và Th thuê ở thì phát hiện Ng và Th đang ở trên gác, H và Sơn ở dưới, đồng thời phát hiện trên nền gạch phòng phía bên trái cửa chính nhìn vào có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh chứa chất màu nâu (được Ng, Th, H, Sơn khai nhận là ma túy đá còn lại sau khi sử dụng), 01 ống hút bằng nhựa, 01 vỏ chai thủy tinh và 01 quẹt gas. Cùng ngày, Công an tiến hành khám xét chỗ ở của Ng và Th phát hiện ở dưới tấm nệm để trên gác gỗ có một hộp giấy màu đen, bên trong có: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, một hộp nhựa màu trắng đựng 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, một hộp nhựa màu trắng đựng 04 gói nylon hàn kín đều chứa chất tinh thể màu trắng, Ng và Th khai nhận đều là ma túy đá cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Công an phường An Bình đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ng, Th.
Vật chứng thu giữ:
+ 05 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và số ma túy chất màu nâu còn lại trong nỏ có trọng lượng 5,1494 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 hộp giấy màu đen, 02 hộp nhựa màu trắng, 01 quẹt gas.
+ Xe môtô hiệu Yamaha, màu nâu vàng bạc, số khung 309Y023214, số máy 23B3023219, biển số 54X9-8859.
Tại bản Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 5,5580 gam.
Đối với người đàn ông tên Cu E bán ma túy cho Ng, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Đối với H và S sử dụng ma túy do Ng rủ rê, không góp tiền, không trả tiền phòng trọ. Tại thời điểm sử dụng ma túy Sơn 16 tuổi 11 tháng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Sơn 750.000 đồng; Huy 1.500.000 đồng, theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021 ngày 12/8/2021 của Chính Phủ.
Quá trình điều tra, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Tại Cáo trạng số 310/CT-VKS-DA ngày 22 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lý Thu Th và Huỳnh Thế Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lý Thu Th từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 12 năm 06 tháng đến 13 năm 06 tháng tù. Bị cáo Huỳnh Thế Ng từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 13 năm 06 tháng đến 14 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
+ 05 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và số ma túy chất màu nâu còn lại trong nỏ có trọng lượng 5,1494 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 hộp giấy màu đen, 02 hộp nhựa màu trắng, 01 quẹt gas đề nghị tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với xe môtô hiệu Yamaha, màu nâu vàng bạc, số khung 309Y023214, số máy 23B3023219, biển số 54X9-8859, chủ sở hữu là bà Đỗ Thị Thanh Th, sinh năm 1969, thường trú 3/1 Đường số 4, Khu phố 6, phường Tr, thành phố Th, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Th đã bán cho bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1974, thường trú: Số 128/5, Khu phố 3, phường Tr, thành phố Th, thành phố Hồ Chí Minh (là mẹ ruột của bị cáo Th) với giá 9.500.000 đồng vào tháng 5/2020. Đến tháng 6/2022, bà C cho Th mượn chiếc xe trên để đi lại, việc bị cáo Th sử dụng xe để đi mua ma túy bà C không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên cho bà C.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong phần nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 12/4/2023, tại phòng trọ số 1 thuộc nhà trọ số 95/2 đường A, khu phố B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Công an phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Huỳnh Thế Ng, Lý Thu Th thuê, Huỳnh Thế Ng và Lý Thu Th đã tổ chức cho Nguyễn Bắc S và Nguyễn H sử dụng ma túy, trong đó Nguyễn Bắc S, sinh ngày 28/5/2006 (chưa đủ 18 tuổi). Ngoài ra, Huỳnh Thế Ng, Lý Thu Th còn có hành vi cất giấu 5,5580 gam Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”, “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung “…Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, bản cáo trạng số 310/CT-VKS ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Trong vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Th, bị cáo Ng đều là người nghiện ma túy; bị cáo Ng đã từng bị xét xử về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Về hình phạt:
Đối với bị cáo Huỳnh Thế Ng là người trực tiếp điều khiển xe chở Th đi mua ma túy, Ng cũng là người rủ rê bị cáo Th, H và S sử dụng ma túy. Vì vậy, khi quyết định hình phạt thì mức hình phạt đối với bị cáo Ng phải cao hơn bị cáo Th.
Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Xử lý vật chứng:
- Đối với xe môtô biển số 54X9-8859, chủ sở hữu là bà Đỗ Thị Thanh Th, bà Th đã bán cho bà C, nên Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Ngọc C là phù hợp.
- Xét 01 bì thư được niêm phong bên trong chứa 5,1494 gam ma túy đá còn lại sau giám định, là vật cấm lưu thông, cần tịch thu tiêu hủy.
- Xét 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 hộp giấy màu đen, 02 hộp nhựa màu trắng, 01 quẹt gas là công cụ sử dụng trong việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn H, Nguyễn Bắc S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với Huy và 750.000 đồng đối với S là đúng quy định.
Đối với người đàn ông tên Cu E bán ma túy cho Huỳnh Thế Ng, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thế Ng và Lý Thu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế Ng 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Lý Thu Th 05 (năm) tù.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế Ng 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Lý Thu Th 08 (tám) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Thế Ng chấp hành chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lý Thu Th chấp hành chung cho cả hai tội là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bì thư ghi số vụ: 201/PC09 (M2) chứa ma túy đá còn lại sau giám định có khối lượng 5,1494 gam.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 vỏ chai thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh (được để trong bì thư ghi số vụ: 201/PC09 (M1)).
- 01 (một) hộp giấy màu đen, 02 hộp nhựa màu trắng, 01 quẹt gas.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo bị cáo Huỳnh Thế Ng và Lý Thu Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Dĩ An; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |