- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Bích N đối với ông Đỗ Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 312/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nga.
2. Ông Lại Hữu Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 607/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Bích N, sinh năm 1992 – Có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Đỗ Minh H, sinh năm 1992 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 17/5/2022, bản tự khai ngày 13/10/2022, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 10/11/2022 và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 10/11/2022, nguyên đơn bà Lê Bích N trình bày:
Bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức đám cưới do hai bên tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2012, Quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/3/2012. Thời gian đầu, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, ông H thường xuyên gây gổ, kiếm chuyện và ghen tuông vô cớ. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà N đã cố gắng nhiều lần hàn gắn. Bà N và ông Đỗ Minh H đã sống ly thân từ tháng 11/2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Minh H.
Về con chung: Bà và ông Đỗ Minh H chỉ có 01 con chung tên là Đỗ Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2012. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Đỗ Minh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đỗ Minh H vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu ly hôn của bà Lê Bích N đối với ông Đỗ Minh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Lê Bích N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Minh H. Căn cứ vào Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ngày 17/02/2023 do Công an xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thì ông Đỗ Minh H có thực tế cư trú và đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự:
+ Ông Đỗ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đỗ Minh H.
+ Bà Lê Bích N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Bích N .
[3] Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2012, Quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/3/2012 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Bích N trình bày: Bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức đám cưới do hai bên tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2012, Quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/3/2012. Thời gian đầu, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, ông H thường xuyên gây gổ, kiếm chuyện và ghen tuông vô cớ. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà N đã cố gắng nhiều lần hàn gắn. Bà N và ông Đỗ Minh H đã sống ly thân từ tháng 11/2021 cho đến nay. Mục đích hôn nhân giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H đã không còn, bà N không muốn chung sống với ông H nữa và yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Minh H.
Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 25/10/2022 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân và gia đình của bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H được biết: “Trong quá trình chung sống giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H: không rõ còn chung sống, xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh.”
Ông Đỗ Minh H dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản thể hiện yêu cầu của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, ông Đỗ Minh H cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Lê Bích N. Như vậy, ông Đỗ Minh H đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên ông Đỗ Minh H phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do đó, Hội đồng xét xử xét nhận thấy việc bà Lê Bích N yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Minh H là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Bích N đối với ông Đỗ Minh H.
Về con chung:
Căn cứ lời khai của bà Lê Bích N: Bà N và ông Đỗ Minh H chung sống chỉ có 01 con chung tên là Đỗ Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2012. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Đỗ Minh H cấp dưỡng nuôi con. Trẻ Q sống cùng bà N kể từ lúc vợ chồng bà ly thân tới nay.
Tại phiên tòa ông Đỗ Minh H vắng mặt, không có bất kỳ văn bản nào trình bày nguyện vọng về con chung khi ly hôn.
Xét thấy nguyện vọng của bà Lê Bích N về con chung là phù hợp và cũng thuận lợi nhất cho trẻ vì bà Lê Bích N là mẹ lại gần gũi và chăm sóc con từ nhỏ nên bà Lê Bích N có đầy đủ điều kiện chăm sóc con chung tốt hơn ông Đỗ Minh H.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Bích N về con chung: Giao con chung là trẻ Đỗ Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2012 cho bà Lê Bích N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Đỗ Minh H cấp dưỡng nuôi con vì bà N có khả năng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bà N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Bích N xác định bà N và ông Đỗ Minh H chung sống không có tài sản chung, không nợ ai.
Ông Đỗ Minh H vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại Tòa hôm nay, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bà Lê Bích N phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Bích N đối với ông Đỗ Minh H.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2012, Quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/3/2012 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Đỗ Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2012 cho bà Lê Bích N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Đỗ Minh H do bà Lê Bích N có khả năng và không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà Lê Bích N xác định bà N và ông Đỗ Minh H chung sống không có tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
4. Về nợ chung: Bà Lê Bích N xác định bà N và ông Đỗ Minh H chung sống không nợ ai. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Bích N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0041235 ngày 30/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Bích N đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Bích N và ông Đỗ Minh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự (2); - VKSND H. Bình Chánh (2); - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1); - UBND xã Đ, huyện B, TP.HCM (1); - Lưu VP, hồ sơ vụ án (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Huyền |