vanban.org

Bản án 312/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A.

1. Buộc ông Lữ Văn T phải thanh toán trả Ngân hàng A số tiền nợ gốc: 7.840.840đ (Bảy triệu tám trăm bốn mươi ngàn tám trăm bốn mươi) đồng và khoản tiền nợ lãi suất cho vay trong hạn: 5.053.264 đồng, nợ lãi suất quá hạn: 2.526.631 đồng; tổng cộng là 15.420.735đ (Mười lăm triệu bốn trăm hai mươi ngàn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 123 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 312/2022/DS-ST
Ngày: 20 - 9 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bảo Lâm

2. Bà Lâm Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 311/2022/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 229/2022/QĐST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng A

Trụ sở: 130 đường H, Phường J, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Minh D; trú tại: 96/27 đường K, Phường L, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 1012/QĐ-DAB-PC ngày 23 tháng 6 năm 2021) có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lữ Văn T, sinh năm: 1963

Địa chỉ: 540/7A (nay là số 71/88/21F) đường B, Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Ngân hàng A và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Minh D là người đại diện của nguyên đơn trình bày: Ngày 22/7/2015, Ngân hàng A (sau đây viết tắt là DONGA Bank) và ông Lữ Văn T có ký kết Hợp đồng tín dụng số 0130853501T15002 (Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ). Theo đó, DONGA Bank cho ông T vay tín chấp số tiền 50.000.000 đồng với thời hạn vay 36 tháng (từ ngày 22/7/2015 đến 21/7/2018). Mục đích vay: Tiêu dùng phục vụ đời sống. Lãi suất: 8%/năm. Lịch trả nợ gốc và lãi được thực hiện hàng tháng trong 36 kỳ tổng cộng là 61.988.889 đồng, trong đó số tiền trả góp trong 35 kỳ đầu là 1.750.000 đồng và số tiền trả góp kỳ cuối là 738.889 đồng.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 50.000.000 đồng vào số tài khoản thẻ: 0102624085 của ông Lữ Văn T tại Ngân hàng A vào ngày 22/7/2015. Quá trình vay, ông T đã trả gốc và lãi được tổng cộng số tiền 54.148.049 đồng, trong đó gốc: 42.159.160 đồng và lãi 11.988.889 đồng). Trong thời gian vay, ông T nhiều lần vi phạm thời hạn trả nợ. Kể từ thời điểm ngày 28/4/2021 đến nay, ông T ngưng trả nợ cho Ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu sang nợ quá hạn kể từ ngày 28/4/2021. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông T phải thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 20/9/2022 là 15.420.735 đồng, trong đó nợ gốc: 7.840.840 đồng, nợ lãi suất cho vay trong hạn: 5.053.264 đồng, nợ lãi suất quá hạn: 2.526.631 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ sau thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quá hạn được quy định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Lữ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tự khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng ông T vắng mặt nên không có lời khai tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lữ Văn T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng A số tiền nợ gốc 7.840.840 đồng, nợ lãi trong hạn: 5.053.264 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.526.631 đồng tính đến ngày 20/9/2022 và buộc ông T có trách nhiệm tiếp tục trả lãi kể từ sau thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông Lữ Văn T trả tiền nợ gốc và tiền nợ lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại địa chỉ 540/7A (nay là số 71/88/21F) đường B, Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của đương sự: Theo kết quả trả lời xác minh của Công an Phường 03, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng nơi cư trú của ông Lữ Văn T như sau: “Đương sự Lữ Văn T có hộ khẩu thường trú tại 540/7A đường B, Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế không cư trú tại địa phương, gia đình bán nhà đi đâu không rõ (nhà bán năm 2016)”. Nhận thấy trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện theo địa chỉ trong hợp đồng và sổ hộ khẩu, nhưng người bị kiện không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú và không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc mới làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, vì vậy xác định đây thuộc trường hợp người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Ông Lữ Văn T (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Lữ Văn T.

Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ bằng hình thức xác minh nơi cư trú của bị đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phải tham gia phiên tòa theo quy định.

Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hợp đồng tín dụng số 0130853501T15002 (Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/7/2015) được các bên giao kết tại thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành. Tại điểm a khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp như sau: “1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: a)…Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11”. Theo khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định thì: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”. Như vậy, khi giải quyết vụ án này cần phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết cho phù hợp. Việc áp dụng về thời hiệu cũng như nghĩa vụ trả nợ (nếu có) sẽ được áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 để giải quyết.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0301442379, đăng ký lần đầu: Ngày 08 tháng 4 năm 1992 và đăng ký lần cuối cùng: Ngày 11 tháng 9 năm 2015 thì Ngân hàng A (sau đây viết tắt là DONGA Bank) là tổ chức tín dụng. DONGA Bank giao kết hợp đồng tín dụng với ông Lữ Văn T thông qua người đại diện của Ngân hàng, hợp đồng được giao kết bằng văn bản. Tại thời điểm giao kết, chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh của Ngân hàng nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 122, Điều 123, Điều 124; Điều 389 và Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2005, vì vậy xác định hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, là căn cứ để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thấy rằng: Giữa DONGA Bank và ông Lữ Văn T có ký kết Hợp đồng tín dụng số 0130853501T15002 (Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/7/2015). Theo đó, DONGA Bank đã cấp tín dụng cho ông T vay tín chấp số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng (từ ngày 22/7/2015 đến 21/7/2018). Lịch trả nợ gốc và lãi được thực hiện hàng tháng trong 36 kỳ, tổng cộng là 61.988.889 đồng, trong đó số tiền trả góp trong 35 kỳ đầu là 1.750.000 đồng và số tiền trả góp kỳ cuối là 738.889 đồng. DONGA Bank đã giải ngân số tiền 50.000.000 đồng vào số tài khoản thẻ 0102624085 tại Ngân hàng A của ông T vào ngày 22/7/2015. Thực hiện hợp đồng, ông T đã thanh toán cho DONGA Bank số tiền 54.148.049 đồng, trong đó tiền gốc là 42.159.160 đồng và tiền lãi là 11.988.889 đồng. Theo đại diện DONGA Bank cho rằng, trong quá trình vay ông T đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ và kể từ thời điểm ngày 28/4/2021 đến nay ông T thực hiện, vì vậy DONGA Bank yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T phải trả số tiền nợ gốc 7.840.840 đồng cho DONGA Bank. Về phía bị đơn trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt cho thấy bị đơn đã từ bỏ nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh, do đó bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ được quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, có cơ sở khẳng định ông T còn phải trả cho DONGA Bank số tiền nợ gốc 7.840.840 đồng, nhưng đến nay ông T không thực hiện, đã vi phạm mục III Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/7/2015; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Vì vậy, DONGA Bank khởi kiện yêu cầu ông T phải thanh toán số tiền nợ gốc 7.840.840đ (Bảy triệu tám trăm bốn mươi ngàn tám trăm bốn mươi) đồng là có cơ sở chấp nhận.

Về yêu cầu trả tiền lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn (lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn): Theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/7/2015 và Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ngày 22/7/2015, các bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 8%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất cho vay trong hạn. Thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Căn cứ bảng tính lãi do nguyên đơn giao nộp cùng với việc xác nhận của đại diện nguyên đơn, thể hiện ông T đã thanh toán được một phần tiền lãi là 11.988.889 đồng; số tiền nợ lãi ông T còn phải trả DONGA Bank đến thời điểm xét xử sơ thẩm (20/9/2022) là 7.579.895 đồng, trong đó lãi suất cho vay trong hạn là 5.053.264 đồng và lãi suất nợ quá hạn là 2.526.631 đồng.

Tổng cộng nợ gốc, nợ lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất nợ quá hạn ông T có trách nhiệm thanh toán trả DONGA Bank: 7.840.840 đồng + 7.579.895 đồng = 15.420.735đ (Mười lăm triệu bốn trăm hai mươi ngàn bảy trăm ba mươi lăm) đồng.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: DONGA Bank yêu cầu ông Lữ Văn T tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi phát sinh kể từ sau thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là có cơ sở chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 15.420.735đ (Mười lăm triệu bốn trăm hai mươi ngàn bảy trăm ba mươi lăm) đồng được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 771.037đ (Bảy trăm bảy mươi mốt ngàn không trăm ba mươi bảy đồng).

Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 380.213đ (Ba trăm tám mươi ngàn hai trăm mười ba đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2021/0031116 ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 21; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; điểm e khoản 1 Điều 192; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 122; 123; 124; 389; 401 và 405 của Bộ luật Dân sự 2005;

Căn cứ vào Điều 280; Điều 463; Điều 466 và điểm a khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A.

1.1. Buộc ông Lữ Văn T phải thanh toán trả Ngân hàng A số tiền nợ gốc: 7.840.840đ (Bảy triệu tám trăm bốn mươi ngàn tám trăm bốn mươi) đồng và khoản tiền nợ lãi suất cho vay trong hạn: 5.053.264 đồng, nợ lãi suất quá hạn: 2.526.631 đồng; tổng cộng là 15.420.735đ (Mười lăm triệu bốn trăm hai mươi ngàn bảy trăm ba mươi lăm) đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 0130853501T15002 (Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/7/2015).

1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Các bên thực hiện dưới sự giám sát của Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Ông Lữ Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 771.037đ (Bảy trăm bảy mươi mốt ngàn không trăm ba mươi bảy đồng).

2.2. Hoàn trả lại cho Ngân hàng A số tiền 380.213đ (Ba trăm tám mươi ngàn hai trăm mười ba đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2021/0031116 ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình;

- Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình;

- Đương sự;

- Lưu vp, hồ sơ vụ án.

Đặng Xuân Chính TTHHÀÀNNHH VVIIÊÊNN HHỘỘII ĐĐỒỒNNGG XXÉÉTT XXỬỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Chính

Cỡ chữ